Những vấn đề nan giải liên quan đến bệnh tâm thần đều có thể được chữa trị với sự giúp đỡ đúng đắn của những người thân, đồng nghiệp, các chuyên gia tâm lý và bác sĩ. Bất kể làm việc ở đâu, bạn đều có khả năng bắt gặp được vấn đề trầm cảm ở trong chính bản thân mình, đồng nghiệp, bạn bè hoặc khách hàng. Hầu hết, chúng ta không nhìn rõ thấy nó và nếu chúng ta gặp phải thì chúng ta cũng không nói về nó.
Bài viết này được viết dưới góc nhìn của một kiểm toán viên đã trải qua và chứng kiến nhiều đồng nghiệp gặp phải vấn đề trầm cảm trầm trọng. Bài viết chia sẻ quan sát và kinh nghiệm của cá nhân về một vấn đề mà chưa được thảo luận và quan tâm đúng mức về sức khỏe tâm thần trong nghề kế toán, kiểm toán tại Việt Nam.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì trầm cảm là căn bệnh thứ hai gây hại đến sức khỏe của con người chỉ sau tim mạch. Tại Việt Nam, theo Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, tỷ lệ mắc 10 chứng rối loạn tâm thần phổ biến trong năm 2014 là 14,2%; trong đó, riêng rối loạn trầm cảm chiếm 2,45%. Trầm cảm ở Việt Nam hiện nay đang có chiều hướng gia tăng đặc biệt là trong giới trẻ. Ở mức tồi tệ nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử. Trầm cảm cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng số người tự tử ở Việt Nam. Ước tính mỗi năm có hàng chục ngàn người tự tử do trầm cảm, gấp 2,5 lần so với số người chết vì tai nạn giao thông (tỷ lệ tự sát trong năm 2015 là 5,87 trên 100.000 dân).
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì trầm cảm là một chứng rối loạn tâm trạng, gây ra một cảm giác buồn và mất hứng thú kéo dài dai dẳng. Chứng trầm cảm sẽ ảnh hưởng đến cách bạn cảm nhận, suy nghĩ, hành xử và có thể dẫn đến những vấn đề khác ảnh hưởng về tinh thần và thể chất. Ngoài ra, những người bị trầm cảm thường có một số triệu chứng như là: không có động lực, giảm hứng thú trong mọi việc (kể cả những hoạt động thuộc sở thích của mình trước đây), sự thay đổi khẩu vị, ngủ nhiều hay ít, thiếu quyết đoán, bồn chồn, cảm giác vô dụng, mặc cảm, hoặc vô vọng và suy nghĩ tự làm hại hoặc tự tử.
Trầm cảm ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi và mọi hoàn cảnh. Nguy cơ bị trầm cảm tăng lên do sự tác động của nghèo đói, thất nghiệp, các sự kiện trong cuộc sống như cái chết của người thân hoặc tan vỡ mối quan hệ, bệnh tật và các vấn đề do sử dụng rượu và ma túy. Trầm cảm gây ra sự thống khổ về tinh thần và có thể ảnh hưởng đến khả năng của mọi người trong việc thực hiện ngay cả những công việc hàng ngày đơn giản nhất, đôi khi gây ra hậu quả nặng nề cho mối quan hệ với gia đình và bạn bè. Và nếu trầm cảm không được điều trị có thể ngăn cản mọi người làm việc và tham gia vào cuộc sống gia đình và cộng đồng.
Trầm cảm là bệnh và cần được quan tâm điều trị. Ở bệnh nhân trầm cảm nhẹ, bệnh nhân có thể chưa cần phải dùng đến thuốc và tình trạng không quá nguy hiểm. Nhưng trên hết, người bệnh cần nhận được sự quan tâm của gia đình và người thân và cả bác sĩ để hỗ trợ khắc phục tình trạng này, bởi lẽ, trầm cảm có thể tồi tệ hơn rất nhiều nếu không được điều trị. Trầm cảm cần được hỗ trợ, điều trị giống như cách bạn theo dõi, điều trị như các bệnh khác (như là bệnh tim mạch hoặc gãy tay, chân). Tuy nhiên, trớ trêu là thực tế mọi người lại không quan tâm đúng mức và kỳ thị những người không may rơi vào tình trạng trầm cảm, bệnh tâm thần này.
Chỉ khi nào bạn đã trải qua trầm cảm thì mới hiểu được rối loạn trầm cảm nó là như thế nào. Các triệu chứng của tôi có thể khác so với bạn. Sự hiểu biết và nhận biết của chúng ta về trầm cảm là khá khó vì trầm cảm tự nó đến, ảnh hưởng, tác động mỗi cá nhân theo những cách khác nhau. Nội tiết não, các vấn đề gia đình, xung đột mối quan hệ, công việc và một loạt các vấn đề khác có thể kết hợp với nhau theo vô vàn cách khác nhau tạo nên rối loạn trầm cảm.
Rối loạn trầm cảm thường đến với chúng ta mà không có cảnh báo. Khi nó đến, rời đi, trở lại có thể xảy ra bất cứ lúc nào và chúng ta không thể ước tính được thời gian khi nào, bao lâu xảy ra một cách hợp lý. Khi tôi bị trầm cảm, tôi mất hứng thú với những thứ tôi từng thích, điều đó khiến tôi phải tạm dừng các hoạt động này. Tôi đánh mất sự khách quan của mình (các chuyên gia sức khỏe tâm thần gọi là biến dạng nhận thức) và do vậy tôi luôn xem và nghĩ mọi thứ với góc nhìn tiêu cực, bi quan.
Thảo luận về các vấn đề sức khỏe tâm thần trong nghề kế toán, kiểm toán trên thế giới là rất ít, đặc biệt ở Việt Nam thì càng hiếm hoi. Hiện nay, đa số chúng ta vẫn im lặng và xem nhẹ khi bàn về vấn đề rối loạn trầm cảm của kế toán viên, kiểm toán viên. Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Psychiatric Rehabilitation Journal (Phục hồi chức năng tâm thần) của nhóm tác giả Albert Woodward, Rachel Lipari và William Eaton (năm 2017), số liệu được thu thập nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014, cho thấy các ngành nghề liên quan đến tài chính xếp thứ 19 trên 32 nghề nghiệp trong nhóm có khả năng cao rơi vào giai đoạn trầm cảm chính – MDE (Major Depressive Episode).
Các cuộc thảo luận liên quan đến sức khỏe tâm thần dễ dàng được tìm thấy trong các ngành nghề liên quan đến pháp luật và học thuật (như là kế toán, kiểm toán). Các nội dung thảo luận này thường đề cập đến việc làm việc quá nhiều giờ, quá căng thẳng và áp lực. Ví dụ, tạp chí ABA Journal đã đăng một bài báo trong đó các luật sư chia sẻ kinh nghiệm của họ với chứng trầm cảm (Jeena Cho, “The Many Faces of Depression”, tháng 4 năm 2019), và The Chronicle of Greater Education nói về vụ tự tử của giáo sư kinh tế nổi tiếng Alan B. Krueger (Emma Pettit, “A Prominent Economist’s Death Prompts Talk of Mental Health in the Professoriate”, ngày 19 tháng 3 năm 2019). Các trường hợp này đều tựu chung ở các nội dung: Thứ nhất, các chuyên gia giỏi hàng đầu của chúng ta đều là con người; cho dù họ có đạt được bao nhiêu thành tích vinh quang, cho dù họ rất thông minh nhưng những thứ đấy đều không thể giúp họ tránh khỏi rối loại trầm cảm, bệnh tâm thần; Thứ hai, các chuyên gia cần nói nhiều hơn về sức khỏe tâm thần để xóa bỏ sự kỳ thị và sự e ngại cho người khác biết rằng người mắc trầm cảm tìm kiếm sự giúp đỡ là bình thường và cần thiết; Thứ ba, chúng ta cần quan tâm lẫn nhau và hỗ trợ nếu chúng ta nghĩ rằng có một đồng nghiệp nào đó có thể đang vật lộn với những rối loạn trầm cảm này.
Giống như luật sư và các học giả, kế toán, kiểm toán viên không tránh khỏi các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Vậy tại sao kế toán, kiểm toán viên lại có sự im lặng như vậy? Rõ ràng rằng nghề kế toán, kiểm toán có xu hướng theo chủ nghĩa khắc kỷ (luôn ép phải tuân thủ theo các nguyên tắc, quy định và chuẩn mực), và ngay cả sinh viên kế toán-kiểm toán cũng cho thấy đặc điểm này. Với công tác giảng dạy hơn mười năm cho hơn 20 trường đại học kế toán, kiểm toán, tài chính trên cả nước, khi nói về rối loạn trầm cảm thì các sinh viên và học viên luôn cảm thấy lo lắng, không dám chia sẻ nỗi lo này. Cuộc sống đời thường hàng ngày của kế toán, kiểm toán viên càng làm cho chủ nghĩa khắc kỷ đó thêm vững chắc. Các sinh viên mới ra trường, người mới vào nghề kế toán, kiểm toán luôn cảm thấy căng thẳng, áp lực nhưng lại không được nói ra mà lại đem giấu đi các “stress” này với suy nghĩ rằng “nghề này nó là như vậy mà”, “cố lên và không sao đâu” “cố chịu đựng nó xíu sẽ ổn”, “ai cũng phải trải qua điều đó mà” hoặc “mình sẽ không ở đây nếu mình không thể xử lý áp lực này”. Và theo kinh nghiệm, thói quen của dân kế toán, kiểm toán chuyên nghiệp của chúng ta thì đã định khuôn cho chúng ta rằng phải luôn học, tiếp thu, nạp vào cái mới chứ không được phàn nàn.
Sống quen trong một trường nơi mà văn hóa về sức khỏe tâm thần không được ai quan tâm, thảo luận, các kế toán, kiểm toán viên đôi khi tự hiểu và tự đánh giá “rủi ro tiềm tàng” về tâm thần, tự nhận biết được sự kỳ thị nhưng không tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài của các chuyên gia, bác sĩ (mặc dù họ có thể tìm kiếm sự trợ giúp của bác sĩ, chuyên gia tâm lý một cách bí mật mà không ai biết). Trong khi đó, áp lực lớn trong mùa bận rộn cao điểm quyết toán, mùa kiểm toán (thường từ cuối tháng 12 đến cuối tháng 3 năm sau) có khả năng khiến kế toán, kiểm toán viên phải chịu đựng rối loạn trầm cảm nhiều hơn so với các thời điểm khác trong năm. Bất cứ lúc nào trong năm, một kế toán viên, kiểm toán khi bị trầm cảm đều có thể nghĩ rằng “không ai khác gặp phải, chỉ dường như chỉ có mình gặp rắc rối; mình chỉ có một mình”.
Với kinh nghiệm là người đã trải qua rối loạn trầm cảm, tôi tự cảm thấy mọi hoạt động của mình chậm đi từ cách vận động, nói chuyện và suy nghĩ. Tôi đã bị rối loạn trầm cảm trong nhiều năm nhưng không biết điều đó. Trong suốt thời đi học phổ thông cấp 3 (học trong môi trường áp lực của một trường chuyên nổi tiếng nhất Tp. Hồ Chí Minh), đại học kế toán, làm trợ lý kiểm toán viên và thành lập công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán của riêng mình, tôi thường xuyên cảm thấy căng thẳng, hụt hẫng. Tôi cũng không biết tại sao mình bị cảm giác như vậy. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ đó là một đặc điểm tính cách của mình. Trong thời gian dài, tôi cố gắng chịu đựng và lo sợ nói ra không ai đồng cảm và họ càng xa lánh, kỳ thị mình.
Trong suốt gần 25 năm trong nghề kế toán, kiểm toán, tôi đã chứng kiến bạn đồng nghiệp (mới ra trường đi làm ở công ty kiểm toán quốc tế lớn) đã phải nghỉ việc giữa chừng với giấy chứng nhận lao lực (do quá căng thẳng thần kinh) của bác sĩ; tôi cũng đã từng chứng kiến một bạn đồng nghiệp tự tử trong khi mọi người xung quanh nhìn thấy rằng cuộc sống gia đình, sự nghiệp của bạn ấy đang rất tốt đẹp; và tôi cũng đã từng chứng kiến vài nhân viên kiểm toán của mình căng thẳng, áp lực đến mức phải xin nghỉ việc; cá biệt có trường hợp một nhân viên phải nhập viện và trở thành bệnh nhân của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2. Theo kinh nghiệm của bản thân và theo sự tìm hiểu các bạn đồng nghiệp thì họ đều cảm thấy xấu hổ về việc bị trầm cảm và hầu như không nói với ai.
Giống như tất cả các kế toán, kiểm toán viên khác, tôi biết tầm quan trọng của cả tiết lộ và bảo mật thông tin (việc bảo mật thông tin được quy định thành một nguyên tắc trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp phải tuân thủ). Và như vậy, một cách tự nhiên tôi đã chọn cách dễ dàng làm hơn: đó là chọn bảo mật thông tin. Tôi đã xấu hổ và thậm chí không muốn thảo luận về những rắc rối của mình với những người thân. Khi đi làm, người thân hỏi tôi “bị làm sao vậy? sao trông mệt mỏi vậy?” thì tôi đều lảng tránh với câu trả lời “bình thường mà” (trong khi thực tế thì không bình thường chút nào). Chỉ đến khi căng thẳng quá mức, tôi quyết định tự tìm hiểu và đăng ký theo học các lớp về tâm lý học thì tôi mới bừng tỉnh và nhận thức rằng sức khỏe tâm thần của mình đã bị bệnh và cần quan tâm, được chăm sóc. Việc học tập và nghiên cứu về tâm lý học nói chung và tâm lý học trị liệu nói riêng đã giúp tôi có một quan điểm mới và phần nào tôi được trang bị tốt hơn để hiểu và kiểm soát chứng trầm cảm của mình.
Tôi nhận thấy rằng tư duy, suy nghĩ đặc trưng của nghề kế toán, kiểm toán khiến cho chúng ta thêm khó khăn trong việc chống và chữa trị rối loạn trầm cảm. Kế toán, kiểm toán viên đã quen với suy nghĩ rằng phải làm việc chăm chỉ, càng làm việc nhiều hơn với hóa đơn, chứng từ thì chúng ta càng giải quyết được nhiều vấn đề hơn, và càng đọc càng nhiều thông tư, văn bản thì chúng ta càng hiểu biết, giải quyết công việc tốt hơn. Chúng ta được thưởng bằng sự đề bạt thăng tiến, tăng lương, các khoản tiền thưởng, tiền ký báo cáo, lời mời làm việc hấp dẫn, sự quý trọng của khách hàng, đồng nghiệp và cộng đồng; Đồng thời, kế toán, kiểm toán viên chúng ta rất giỏi trong việc sử dụng các quy trình, biểu đồ, sơ đồ, bảng tính, quy tắc và danh mục kiểm tra để giải quyết các vấn đề; Chúng ta kiểm tra, sàng lọc thông tin, số liệu từ các hóa đơn chứng từ, đến việc trích xuất các dữ liệu, phân tích thông tin để tìm ra các rủi ro, sai sót và điều chỉnh các sai sót đó; Chúng ta xử lý được tất cả các sự rối rắm của số liệu, xử lý các vấn đề phức tạp của tài chính, kế toán, thuế; Chúng ta giúp cho thông tin tài chính của thị trường tài chính trở nên minh bạch. Và chính các điều này khiến cho các kế toán, kiểm toán viên dễ dàng tự cho rằng chúng ta có thể tự giải quyết vấn đề về rối loạn trầm cảm như cách chúng ta đã xử lý công việc hàng ngày. Chúng ta xem như thể trầm cảm là một Thông tư kế toán 200, một chuẩn mực kế toán mới được áp dụng, một quy định mới về kê khai thuế. Trong khi đó, sự thật là trầm cảm không thể được chữa khỏi bằng cách làm theo danh mục, quy trình kiểm tra, đối chiếu. Nó không theo một hướng dẫn rõ ràng (như hướng dẫn của chương trình kiểm toán mẫu của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) mà hàng ngày kiểm toán viên áp dụng) hoặc tuân theo các giả định, cơ sở dẫn liệu. Chúng ta không thể tự chữa trị, hồi phục sau trầm cảm bằng cách dựa vào các kỹ năng chuyên nghiệp kế toán, kiểm toán của mình.
Nếu kế toán, kiểm toán viên thường cảm thấy thất vọng hoặc nghĩ rằng có điều gì đó không ổn, hãy nói chuyện với một người bạn đáng tin cậy và chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ của bạn. Đừng bỏ qua, im lặng và giấu nó đi như tôi đã làm. Đừng ngại tìm kiếm sự giúp đỡ. Kế toán, kiểm toán viên chúng ta làm như vậy có vẻ không bình thường, nhưng nó là điều cần thiết.
Toàn bộ ngành nghề, hội nghề nghiệp, các trường đại học kế toán, kiểm toán cần quan tâm, cần nói nhiều hơn về sức khỏe tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng; Làm như vậy sẽ giúp xóa bỏ sự kỳ thị và giúp các kế toán, kiểm toán viên đang đau khổ trong im lặng biết rằng họ không đơn độc.
Mặc dù các kỹ năng nghề nghiệp kế toán, kiểm toán chuyên nghiệp của chúng ta không giúp chúng ta giải quyết trầm cảm của chính mình, nhưng chúng có thể giúp chúng ta giúp đỡ người khác. Kế toán, kiểm toán viên cần chú ý đến chi tiết, thực hiện sự hoài nghi và chú ý những gì khác thường của những người xung quanh (rối loạn giấc ngủ, thay đổi cách ăn uống, mệt mỏi, vận động chậm chạp, dễ bị kích động, khó khăn trong việc tập trung hoặc trong giải quyết các vấn đề đơn giản hàng ngày, cảm giác thất vọng và tội lỗi về bản thân). Chúng ta phải lắng nghe và quan sát để thấy nỗi đau đằng sau những nụ cười và khuyến khích những người đang đấu tranh để có được sự giúp đỡ từ các chuyên gia tâm lý, bác sĩ tâm thần.
Nếu các kế toán, kiểm toán viên đang tìm kiếm sự giúp đỡ, khi chúng ta cần nó và giúp những người khác làm điều tương tự thì có nghĩa chúng ta đang cùng chung tay xây dựng một cộng đồng nghề nghiệp kế toán, kiểm toán khỏe mạnh hơn, bền vững hơn./.
TS.Trần Khánh Lâm – Tổng thư ký, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA).
Tài liệu tham khảo:
- Psychiatric Rehabilitation Journal (Phục hồi chức năng Tâm thần) của nhóm tác giả Albert Woodward, Rachel Lipari và William Eaton (năm 2017)
- https://www.semanticscholar.org/paper/Occupations-and-the-Prevalence-of-Major-Depressive-Woodward-Lipari/b61d4f213479124052b50dd95a4e904f51f5977f/figure/1
- http://www.abajournal.com/magazine/article/lawyers-reveal-many-faces-depression
- https://www.chronicle.com/article/A-Prominent-Economist-s/245932
