Thực chất của căn bệnh mang tên ”Bệnh thành tích trong giáo dục” dưới ống kính của khoa học Tâm lý

Nhiều năm nay, có một hiện tượng “bất thường” là phần lớn các nhà trường của chúng ta đều công bố trước dư luận là kết quả học tập của nhà trường rất tốt, 98% học sinh của trường đều đạt tiêu chuẩn “học sinh giỏi”, thậm chí có trường đạt 100%. Tỷ lệ học sinh hạnh kiểm tốt ngưỡng mộ v.v…đều cao ngất ngưởng.

Nhiều trường mắc các lỗi từ phía lãnh đạo nhà trường, hoặc từ các giáo viên, từ các học sinh, họ thống nhất với nhau không báo cáo với cấp trên, để “nhắc nhở” xử lý nội bộ v.v… cũng chỉ vì giữ “thành tích” của trường không bị sụt giảm, bị trừ điểm thi đua. Nếu bị trừ điểm thi đua, không được xếp vào trường tiên tiến thì giáo viên sẽ mất điểm, sẽ bị trừ tiền thưởng, trường sẽ mất danh hiệu đã có, hiệu trưởng sẽ khó được lên lương, khó được đề bạt cất nhắc. Các kiểu hành vi “tự lừa dối” lẫn nhau như thế cứ tự nhiên diễn ra, không ai nhắc nhau làm thế là không đúng, cần phải sửa, phải làm khác, cần phải trung thực.

Một phụ huynh nào đó có con bị điểm kém, hoặc hạnh kiểm bị đánh giá kém đến nhà riêng xin gặp cô giáo, thầy giáo, xin cô, thầy sửa dùm cho để con có được học bạ ngay ngắn tiện cho thi cử sau này. Thầy giáo, cô giáo thấy vị phụ huynh kia nói cũng có lý, thương tình đã tự ý sửa lại điểm đánh giá trò [6].

Thầy, cô giáo cũng tự xem đấy cũng là sự thương người của mình. Làm phúc cho người khác mà, chẳng tội gì.

Ở một khung cảnh khác, thầy, cô vốn rất nghiêm túc, nhưng rồi do những hoàn cảnh éo le, học trò là con cháu của bạn thân quen biết, hoặc do những quà cáp nặng tay, tiền cả sấp…mà nếu mình nhận giúp theo yêu cầu của các phụ huynh hoặc người khác nhờ thì cũng chẳng ai biết, và họ tặc lưỡi chấp nhận làm các việc sai trái và về thực chất là đã vi phạm luật pháp mà không hay biết.

Các kiểu hành vi như nêu ở trên đã diễn ra rất nhịp nhàng, suôn sẻ từ rất lâu rồi. Các trường ngấm ngầm bảo nhau làm như thế. Các cấp trên của họ có biết không? Biết đấy, nhưng cho qua. “Thành tích” là thành tích chung mà. Cấp dưới của mình bị phạt thì mình cũng mất thành tích, mất điểm.

 

Về thực chất các kiểu hành vi như trên là những việc làm sai trái, không đúng. Trong một số trường hợp, nó đã vượt ra khỏi phạm vi thông thường của sự ban ơn, giúp đỡ, trở thành tội phạm. Cao hơn nữa là phạm tội hình sự buộc phải truy tố trước pháp luật [7]. Đấy là căn bệnh xã hội – mà ta hay quen gọi bằng một cụm từ riêng chỉ ở nước ta mới có là “Bệnh thành tích” (BTT). Không phải chỉ có các nhà trường, các đơn vị trong ngành giáo dục và đào tạo mới có căn bệnh này. Trên thực tế, căn bệnh xã hội này có mặt ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong xã hội.

Vậy, cái gọi là “Bệnh thành tích” trong giáo dục là gì? Xét về thực chất của nó, có thể tạm hiểu, đó là các hoạt động, hành vi không trung thực trong báo cáo về kết quả giáo dục và đào tạo, tạo dựng thành tích ảo không có thực, dấu diếm các lỗi lầm trong hoạt động giáo dục và đào tạo của đơn vị do mình phụ trách, lừa dối, báo cáo sai sự thật, thổi phồng, phô trương các kết quả công việc mình đã thực hiện không đúng như thực tế đã có nhằm đạt được một mục đích cá nhân nào đó.

Ta hãy thử đi sâu phân tích căn bệnh này dưới góc độ của khoa học tâm lý học và các khoa học có liên quan đến hiện tượng này.

 

1.Phân tích các hành động, hoạt động  gian lận, lừa dối dưới ánh sáng học thuyết về nhu cầu của Abraham Maslow (1908-1970)

Abraham Maslow (1908-1970), nguyên Chủ tịch Hội Tâm lý học Hoa Kỳ, đã mang đến cho Tâm lý học cách hiểu khá thấu đáo về nhu cầu của con người.

Nhu cầu là điều cần thiết đảm bảo con người tồn tại và phát triển. Để tồn tại trong cuộc sống, con người phải tìm cách thoả mãn các nhu cầu thiết yếu.

Maslow đã nhìn thấy và chỉ rõ hệ thống động cơ – nhu cầu của con người là một hệ thống có cấu trúc thứ bậc được sắp xếp theo thứ tự độ trội giảm dần. Đầu tiên, và cũng là thấp nhất, nhưng theo Maslow lại là nhu cầu mạnh nhất trong cả hệ thống. Nhu cầu này được ông gọi là Nhu cầu sinh lý. Nhu cầu sinh lý sinh ra các ham muốn cơ bản nhất. Nhu cầu tiếp theo là nhu cầu an toàn và bảo đảm. Con người cần phải được an toàn trong mọi hoàn cảnh. Ở bậc thang cao hơn là nhu cầu Tình yêu và mối quan hệ thân thuộc. Đây là nhu cầu về mối quan hệ và sự tương tác giữa người với người. Cao hơn nữa là nhu cầu về Lòng tự trọng. Mức độ này đánh dấu sự trưởng thành của con người về mặt nhân cách, thể hiện là con người, luôn biết đắn đo suy tính trước các công việc sẽ làm, tự điều khiển mình nên làm điều này và không nên làm điều khác. Và cuối cùng ở bậc thang cao nhất trong các bậc thang về nhu cầu, theo Maslow, đó là nhu cầu về Tự thể hiện bản thân [2; tr. 300]. Người trưởng thành đầy đủ là người luôn có nhu cầu này, đánh dấu sự trưởng thành, độ chín trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Con người luôn khát khao thể hiện mình, mong muốn đóng góp gì đó cho xã hội, khẳng định vị thế của mình ngay từ trong gia đình và ngoài xã hội.

Từ hệ thống thứ bậc nhu cầu do A. Maslow đề xướng, chúng ta có thể rút ra vấn đề gì cho nghiên cứu nhằm hạn chế đi đến xóa bỏ “bệnh thành tích” trong giáo dục, tức là hạn chế đi đến xóa bỏ các hành vi, hành động, hoạt động gian lận lừa dối trong giáo dục.

Thứ nhất, Nhu cầu là đòi hỏi tất yếu khách quan của con người cần phải đáp ứng. Nhưng nhu cầu của con người có liên quan đến phương thức thỏa mãn nhu cầu. Sự lựa chọn các phương thức thỏa mãn nhu cầu này lại phụ thuộc vào trình độ ý thức của các chủ thể. Một phương thức thỏa mãn bằng các hành động gian dối, lừa đảo… vi phạm pháp luật là điều không thể chấp nhận. Thứ hai, nhu cầu về lòng tự trọng, là nhu cầu bậc cao của con người. Chăm lo giáo dục con người không chỉ đơn giản là tạo điều kiện cho con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp, như nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn…mà còn phải biết khơi gợi để xây dựng, hình thành các nhu cầu bậc cao cho mỗi con người, trong đó có lòng tự trọng, trung thực, không giả dối, không gian lận, nhân nghĩa, đức độ, khiêm tốn, thật thà, ý thức cố kết vì cộng đồng, lòng yêu nước v.v…Đây là trách nhiệm, sứ mạng giáo dục của một quốc gia, đặt ra trách nhiệm lớn lao cho sự nghiệp giáo dục, cho những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Thứ ba, Ai cũng có nhu cầu tự thể hiện bản thân. Đây cũng là một đòi hỏi hợp lý của con người, của mỗi cá nhân nhằm khẳng định vị thế của mình trong cộng đồng xã hội. Một nỗ lực lớn nhằm thể hiện những đóng góp trí tuệ, công sức của mình trong nhóm, trong cộng đồng lúc nào cũng là điều đáng quý và luôn được cộng đồng ủng hộ, tạo điều kiện. Xã hội nào không thấy được điều này, không tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho các cá nhân thể hiện năng lực của mình, đó không thể nói là một xã hội phát triển. Tự thể hiện bản thân nhưng phải khiêm tốn, thật thà, biết chia sẻ, quan tâm tới người khác. Thái độ sống này hoàn toàn không có chỗ đứng cho những con người luôn có các hành vi gian lận, dối trá, thích phô trương, thổi phồng những cái mình đã đạt được. Một sự phát triển đầy đủ ý thức cá nhân thông qua giáo dục sẽ giúp chủ thể quyết định phương thức tự thể hiện bản thân phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh, đóng góp công sức tốt nhất cho xã hội.

 

  1. Phân tích các hành động, hoạt động gian lận, lừa dối dựa theo sơ đồ cấu trúc tâm lý hoạt động của A.N.Leonchiev (1903-1979)

A.N. Leonchiev (1903-1979), nhà tâm lý học lỗi lạc người Nga đã cùng với các nhà tâm lý học khác như A.R. Luria, A.V. Daparojet, P.Ia. Gaperin, D.B. Enconhin …đã kiên trì lấy phạm trù hoạt động của triết học mácxit làm phạm trù nòng cốt của toàn bộ hệ thống khái niệm của nền Tâm lý học kiểu mới. Phương hướng này được L.X. Vưgôtxki (1896-1934) phát triển từ năm 1925 trong bài “Ý thức là vấn đề của Tâm lý học hành vi”[3; tr. 6].  Theo Leonchiev, xem xét hoạt động tâm lý người cần phải xem xét, phân tích cả ở 2 mặt: tính đối tượng của hoạt động và tính chủ thể, người thực hiện hoạt động. A.N. Leonchiev đã chỉ rõ hoạt động của con người bao gồm nhiều hành động. Mỗi hành động lại bao gồm nhiều thao tác. Hoạt động gắn liền vớí các động cơ, trả lời cho câu hỏi, con người thực hiện hoạt động ấy vì động cơ gì. Không thể có hoạt động mà không có động cơ. Chính các động cơ đã chi phối thúc đẩy con người hoạt động theo hướng này hay hướng khác. Hành động gắn với các mục đích. Mỗi hành động thường gắn với một hoặc nhiều mục đích cụ thể. Để hành động được, con người phải thực hiện nhiều thao tác khác nhau. Điều kiện và phương tiện sẽ là cái quy định các thao tác của con người theo một cách thức nhất định. Những lý luận chỉ đường này có thể giúp chúng ta làm rõ các khía cạnh tâm lý học khác nhau của các hoạt động gian lận, lừa dối.

Trở lại với vấn đề chúng ta đang bàn là cần làm rõ các hoạt động gian lận, lừa dối  (GLLD) trong giáo dục và đào tạo. Nếu các hoạt động này xảy ra, hoạt động đó sẽ bao gồm trong nó nhiều hành động, hành vi gian lận, lừa dối và để hoàn thành các hành vi, hành động này chủ thể tất yếu phải thực hiện một loạt các thao tác cụ thể nào đó. Ứng với các hoạt động gian lận, lừa dối là các động cơ gian lận, lừa dối. Chủ thể thực hiện các hoạt động gian lận, lừa dối, như sửa điểm, nâng kết quả thi v.v… là do các động cơ nào chi phối. Ứng với các hành vi, hành động gian lận, lừa dối là các mục đích cụ thể. Chủ thể thực hiện các hành vi, hành động gian lận, lừa dối này nhằm vào các mục đích gì. Ứng với các Thao tác gian lận, lừa dối là là các điều kiện, phương tiện. Chủ thể đã do vì có các điều kiện, phương tiện thuận lợi nào đó mà các thao tác gian lận, lừa dối đã thực hiện được trót lọt [5, tr.426].

Các phân tích sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn các khía cạnh này.

 

2.1. Hoạt động và các động cơ của các hoạt động gian lận, lừa dối trong giáo dục và đào tạo

Động cơ chính là lực thúc đẩy con người hoạt động. Làm rõ động cơ trong các hoạt động của một chủ thể nào đó, sẽ giúp ta phần nào có lời giải rõ ràng cho câu hỏi, vì cái gì mà chủ thể đó lại làm như vậy? Theo A.N. Leonchiev, có những “động cơ tạo ý” và “động cơ kích thích” và cũng có các động cơ được ý thức và cũng có những động cơ không được ý thức.

Chúng ta có thể nhận dạng các động cơ gian lận, lừa dối chứa đựng bên trong các hoạt động gian lận, lừa dối được trình bày trong sơ đồ sau (sơ đồ 2):


2.2. Các hành động và mục đích của các hành động (hành vi) gian lận, lừa dối

Để thực hiện một hoạt động gian lận, lừa dối nào đó, nói chung, chủ thể không thể hoàn thành chỉ bằng một việc làm nào đó, mà chủ thể ấy buộc phải thực hiện nhiều hành động khác nhau. Mỗi một hành động thường thằng nhằm vào một mục đích nhất định.

Mục đích của các hành vi gian lận, lừa dối trong hoạt động giáo dục là cái quy định tính chất và phương thức của các hành động GLLD, là cái các hành động GLLD nhằm vào, thực hiện để đáp ứng các động cơ của hoạt động, hoàn thành được hoạt động theo mục đích đặt ra của chủ thể.

Về vấn đề này, chúng ta có thể xem mô tả tại sơ đồ sau (sơ đồ 3):

 

2.3. Các thao tác gian lận, lừa dối và các điều kiện, phương tiện giúp cho gian lận, lừa dối dễ thực hiện

Để thực hiện các hành động GLLD, cần phải trải qua một loạt các thao tác cụ thể. Các thao tác ấy có thể có như thao tác tẩy xóa; sửa chữa lại các kết quả đã có theo hướng có lợi cho mình; tạo dựng, bịa đặt các số liệu, sự việc không có thật và thậm chí cả các việc như đe dọa người khác nếu nói ra khuyết điểm, lỗi lầm của mình v.v… Các thao tác này có thể dễ dàng được thực hiện khi và chỉ khi các điều kiện quản lý bị lỏng kẻo, có nhiều sơ hở, các phương tiện không đầy đủ, không có điều kiện phát hiện được các hành vi dối trá, phạm pháp. Chẳng hạn, một người giám thị nào đó muốn sửa chữa lại kết quả thi thì cần có một số điều kiện thuận lợi cho họ có thể dễ thực hiện việc này như việc niêm phong, bảo quản các túi bài thi không chặt chẽ, không được cẩn thận, nghiêm túc, việc giao nhận các bài thi không đầy đủ, có nhiều sơ hở, không đúng quy cách, bất cứ ai cũng có thể dễ dàng mở, lấy bài ra để sửa hoặc thay thế vào đó một bài khác đã được điều chỉnh, hoặc có thể sửa, hiệu chỉnh điểm ngay trên máy tính một cách dễ dàng v.v…Rõ ràng ở đây các việc làm GLLD có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật của những người thừa hành việc tổ chức quản lý thi, các giám thị phòng thi, các người làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra… và trong điều kiện của thời đại khoa học và công nghệ, muốn việc phòng chống, không để cho các việc làm gian lận lừa dối dễ xuất hiện thì cần phải nói tới mức độ tin cậy của các phương tiện quản lý dữ liệu và các điều kiện nghiêm túc, chặt chẽ của việc giám sát, các quy chế bảo đảm an toàn dữ liệu, đặc biệt là các dữ liệu kiểm tra, kết quả thi học kỳ, năm học và kết quả chấm thi các cấp. Lấy một ví dụ, tại Pháp, khi kết thúc học kỳ, mỗi học sinh và gia đình các học sinh ngay lập tức đều nhận được bản thông báo điểm học kỳ được công bố công khai trên mạng internet của nhà trường. Tất cả các giáo viên dạy các môn học đều có tên trong phiếu thông báo công khai cùng với lời nhận xét ngắn gọn, khoảng 10 từ về kết quả học tập môn học đó của học sinh. Phần cuối của phiếu này là lời đánh giá chung, khẳng định học sinh đó có được lên lớp hay không cùng với chữ ký của Hiệu trưởng và dấu của nhà trường. Điều đáng lưu ý là, ngay khi kết thúc học kỳ, nhà trường lập tức công khai thông báo rộng rãi trên mạng và do thế nếu có ai đó muốn tự ý thay đổi kết quả hoặc gây áp lực để được thay đổi kết quả thì cũng khó thực hiện.

 

Có thể xem xét các thao tác GLLD và các điều kiện, phương tiện giúp cho GLLD dễ thực hiện trong sơ đồ sau, sơ đồ 4:

Một vài kết luận rút ra:

1.Thực chất của cái gọi là Bệnh thành tích trong giáo dục chính là các hoạt động, hành động không trung thực trong báo cáo về kết quả giáo dục và đào tạo, tạo dựng thành tích giả không có thực, dấu diếm các lỗi lầm trong hoạt động giáo dục và đào tạo của đơn vị do mình phụ trách, lừa dối, báo cáo sai sự thật, gian lận, lừa đảo, thổi phồng, phô trương các kết quả công việc mình và đơn vị đã thực hiện không đúng như thực tế đã có nhằm đạt được một mục đích cá nhân nào đó. Các hành động, hoạt động GLLD có yếu tố cấu thành tội phạm cần phải sớm được truy tố, nhằm làm gương cho những đối tượng luôn có những hành vi bất chính.

 

2.Cần có các nghiên cứu khảo sát cụ thể nhằm mô tả rõ hơn về loại tội gian lận, lừa dối này từ việc chỉ rõ mức độ suy thoái đạo đức, phẩm chất chính trị, ý thức trách nhiệm của những người thừa hành công lý trong giáo dục và đào tạo, làm rõ bức tranh về nhu cầu, động cơ, mục đích của các hành vi vi phạm; làm rõ các điều kiện, hoàn cảnh nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm; chỉ ra nguyên nhân của hiện trạng này. Đây là cơ sở khoa học giúp cho việc đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế đi đến xóa bỏ hiện tượng gọi là “Bệnh thành tích” trong giáo dục.

 

3.Điều căn bản để giải quyết hạn chế đi đến xóa bỏ “Bệnh thành tích” trong giáo dục và đào tạo là cùng với việc tác động rất mạnh vào bình diện chính trị, tư tưởng, đạo đức, trách nhiệm xã hội của các thầy, cô giáo, những người thừa hành công lý trong giáo dục và đào tạo, cần tìm mọi biện pháp nhằm không tạo điều kiện cho các hành vi, hoạt động gian lận, lừa dối dễ dàng nảy sinh bằng việc sử dụng các thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại, giám sát và quản lý chặt chẽ các kết quả học tập, thi cử. Các quy định, quy chế luật pháp cũng phải được thay đổi, hoàn chỉnh không để có các kẽ hở cho các hành vi gian dối, bất chính dễ dàng xuất hiện.

                                                                                                      GS.TS.   Nguyễn Ngọc Phú

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký

Hội Khoa học Tâm lý-Giáo dục Việt Nam

(Bài đã được công bố trong “Tạp Chí Giáo chức Việt Nam” số 160 (8/2020), trang 24-28).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1-B.R. Hergenhahn (2003), Nhập môn lịch sử Tâm lý học, NXB Thống kê, Hà Nội.

2-Barry D. Smith; Harold J. Vetter (2005), Các học thuyết về nhân cách, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

3-Phạm Minh Hạc (2003), Một số công trình Tâm lý học A.N. Lêônchiev, NXB Giáo dục, Hà Nội.

4-Nguyễn Ngọc Phú 2004, Lịch sử Tâm lý học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 214-215.

5-Tâm lý học quân sự (Nguyễn Ngọc Phú chủ biên), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội 1998.

6-https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/can-co-tieu-chi-xep-loai-hanh-kiem-hoc-sinh-moi-post205549.gd

7-Joseph Prezioso, https://www.nytimes.com/2019/04/12/us/college-admissions-scandal-testing.html

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *