Năm học 2019- 2020 có nhiều thách thức đặt ra đối với công tác đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam, trong đó có sự tác động rất lớn đối với nền giáo dục là dịch bệnh Covid-19 diễn ra từ tháng 12/2019, học sinh, sinh viên không thể đến trường trong suốt 4 tháng đầu năm 2020, chuyển đổi hình thức học trực tuyến tại nhà. Đây là năm học mà toàn ngành giáo dục tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện gắn với dạy học trực tuyến và cũng là năm cuối thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020, tạo tiền đề bứt phá cho giai đoạn tiếp theo.
- Thực trạng việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong thời gian qua
Ngày 04/11/2013, Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã được Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) thông qua. Đến nay, sau gần 6 năm triển khai Nghị quyết, sự nghiệp giáo dục, đào tạo nước ta đã có những chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả, được các tổ chức giáo dục thế giới ghi nhận, đánh giá cao.
Giáo dục và đào tạo (GDĐT) luôn được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ mục tiêu: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân.
Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.
Hệ thống các cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện, giải quyết những “nút thắt”, tạo hành lang pháp lý trong hoạt động đổi mới giáo dục. Mỗi thầy giáo, cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục và các em học sinh, sinh viên không ngừng rèn luyện, cần cù, sáng tạo trong dạy và học, tạo dựng niềm tin trong xã hội. Ngành giáo dục cơ bản khắc phục tình trạng thực hiện chương trình giáo dục phổ thông nặng về hành chính, áp đặt theo phân phối chương trình cứng nhắc. Đáng tự hào năm 2019 Việt Nam giành 15 Huy chương vàng, 14 Huy chương Bạc, 7 Huy chương đồng tại kỳ thi Olimpic Toán học và khoa học quốc tế; Đoàn Olimpic Toán quốc tế Học sinh Việt Nam xếp top đầu. Với kết quả này, Việt Nam đã tiến 13 bậc so với IMO 2018 và lần đầu Việt Nam có hai đại học được vào danh sách 1.000 trường đại học hàng đầu thế giới, bảy đại học được vào danh sách các trường đại học hàng đầu châu Á… Những kết quả đạt được đó từng bước tạo niềm tin và động lực thúc đẩy đổi mới giáo dục và đào tạo phát triển vững chắc hơn nữa.
Sau khi Nghị quyết số 29-NQ/TW ra đời, mặc dù trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn và nguồn lực còn hạn hẹp, song với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD), sự nghiệp GDĐT nước ta đã có những chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả, được các tổ chức giáo dục thế giới ghi nhận, đánh giá cao. Cụ thể:
– Thứ nhất, hệ thống cơ chế, chính sách về GDĐT tiếp tục được chú trọng hoàn thiện nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, giải quyết những “nút thắt” trong hoạt động đổi mới giáo dục, tạo hành lang pháp lý để các địa phương, các cơ sở GDĐT thực hiện. Bộ GDĐT đã trình và được Quốc hội thông qua hai luật quan trọng, đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 và Luật Giáo dục năm 2019.
Chất lượng giáo dục mầm non có nhiều chuyển biến tích cực; chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được quan tâm. Nếu như năm học 2013 – 2014, cả nước mới có 18 tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi thì đến năm 2017, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Chất lượng phổ cập ngày càng được nâng cao. Tháng 8/2018, Chính phủ đã thống nhất chủ trương thực hiện chính sách miễn học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi và hỗ trợ đóng học phí cơ sở ngoài công lập đối với trẻ em diện phổ cập, nhất là đối với các thôn, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết số 29-NQ/TW.
Chất lượng giáo dục phổ thông được nâng lên, được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Theo báo cáo “Tăng trưởng thông minh hơn: Học tập và Phát triển công bằng ở Đông Á – Thái Bình Dương” năm 2018 của Ngân hàng Thế giới đã khẳng định 7 trong số 10 hệ thống giáo dục đổi mới hàng đầu của thế giới nằm ở khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, trong đó sự phát triển thực sự ấn tượng là ở hệ thống giáo dục của Việt Nam và Trung Quốc. Báo cáo Phát triển 2018 của Ngân hàng Thế giới “Learning to realize education’s promise” tái khẳng định đánh giá trong nhiều nghiên cứu là năng lực học sinh lứa tuổi 15 nước ta – một nước thu nhập trung bình thấp, có kết quả vượt mức trung bình của học sinh các nước khối OECD1.
Việc triển khai chương trình, sách giáo khoa mới được tích cực thực hiện; thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Công tác giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh có bước chuyển biến.
Đến nay, Bộ GDĐT đã hoàn thành và ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, tổ chức thực nghiệm chương trình môn học trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Chương trình phổ thông mới thay đổi căn bản cách tiếp cận từ “theo nội dung” sang theo hướng “phát triển năng lực và phẩm chất”, dạy học “tích hợp” ở cấp dưới, dạy “phân hóa” ở cấp trên, tăng cường các môn tự chọn. Mặc dù chương trình chưa áp dụng chính thức, nhưng các yếu tố về phương pháp giáo dục, dạy học và kiểm tra đánh giá đã được áp dụng từng phần ở các bậc học.
Chất lượng giáo dục đại học (GDĐH) ngày càng được quan tâm, văn hóa chất lượng từng bước được hình thành trong các cơ sở GDĐH. Một số trường đại học đã triển khai đào tạo hiệu quả nguồn nhân lực theo các chương trình tiên tiến được chuyển giao từ các nước phát triển; đẩy mạnh việc triển khai thực hiện hỗ trợ khởi nghiệp đối với sinh viên. Những năm qua, chất lượng GDĐH từng bước được thế giới công nhận thông qua kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học quốc tế.
– Thứ hai, chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQLGD các cấp được nâng lên và chuẩn hóa. Tính đến ngày 15/8/2018, toàn quốc có 1.161.143 giáo viên mầm non, phổ thông (công lập 858.772, ngoài công lập 23.691). Trong đó, mầm non: 309.770 người (công lập 262.155, ngoài công lập 47.615); tiểu học: 395.848 người (công lập 390.873, ngoài công lập 4.975); trung học cơ sở: 305.815 người (công lập 300.990, ngoài công lập 4825; trung học phổ thông: 149.710 người (công lập 135.819, ngoài công lập 13.891). Đội ngũ nhà giáo, CBQLGD tăng mạnh về số lượng, đồng thời đạt chuẩn, trên chuẩn trình độ đào tạo. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn với mầm non là 96,6%; tiểu học: 99,7%; trung học cơ sở: 99%; trung học phổ thông: 99,6%; đại học: 82,7%, tạo tiền đề để Bộ GDĐT đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên trong sửa đổi Luật Giáo dục 3.
Bên cạnh đó, Bộ GDĐT cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở GDĐH và các trường cao đẳng sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT giai đoạn 2018 – 2030. Xây dựng khung năng lực giáo viên phổ thông các môn học đặc thù; xây dựng chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với trường sư phạm và trường phổ thông trong bồi dưỡng nhà giáo, CBQLGD. Đồng thời, rà soát mạng lưới, quy mô, phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên; triển khai Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông (ETEP); khảo sát nhu cầu sử dụng giáo viên của địa phương làm căn cứ xác định chỉ tiêu đào tạo giáo viên, nâng cao chất lượng đầu ra sư phạm.
– Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và trong dạy học ngày càng được đẩy mạnh. Cơ sở dữ liệu của các cấp học đã được thống kê; dữ liệu về đội ngũ nhà giáo và CBQLGD được đưa vào sử dụng làm cơ sở cho cơ quan quản lý ra các quyết định về chính sách hiệu quả, khắc phục tối đa những bất cập hiện nay như thừa, thiếu giáo viên, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, chính sách cho nhà giáo. Kiểm định chất lượng giáo dục được triển khai tích cực, hiệu quả, đánh giá đúng chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục. Kết quả kiểm định chất lượng làm căn cứ để xác định chất lượng GDĐH, vị thế và uy tín của cơ sở GDĐH.
– Thứ tư, hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, nhiều thỏa thuận, biên bản ghi nhớ được ký kết. Nhiều cơ sở GDĐT đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế thông qua các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài và các chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên, hợp tác nghiên cứu.
Công tác thanh tra được đẩy mạnh, góp phần phòng ngừa, phát hiện những sai phạm, hạn chế, thiếu sót trong quản lý và kịp thời kiến nghị xử lý vi phạm, đề xuất các biện pháp khắc phục, góp phần chấn chỉnh, duy trì kỷ cương, nền nếp trong hoạt động giáo dục…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT cũng còn một số hạn chế, như: công tác sắp xếp mạng lưới trường, lớp học ở một số địa phương còn bất cập do chưa hoàn thiện quy hoạch tổng thể về phát triển trường, lớp. Nguồn lực tài chính thực tế cho đổi mới GDĐT còn thiếu do quy mô ngân sách nước ta còn nhỏ, vì vậy, chi thực tế cho giáo dục còn ít so với nhu cầu của một nền giáo dục đang phát triển.
Năng lực đội ngũ quản lý giáo dục, nhà giáo các cấp còn yếu, chưa theo kịp với tiến trình đổi mới. Mặc dù tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo cao, nhưng năng lực ứng dụng những phương pháp dạy học và giáo dục mới, năng lực thực hiện các phương pháp kiểm tra đánh giá mới, năng lực ngoại ngữ và ứng dụng CNTT còn kém. Cơ cấu đội ngũ giáo viên phổ thông mất cân đối, tạo ra sự thừa, thiếu cục bộ. Chính sách tiền lương cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên mầm non chưa phù hợp nên chưa thu hút được sinh viên giỏi vào ngành sư phạm.
Công tác phân luồng, giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông chưa hiệu quả do nhận thức của học sinh, gia đình học sinh và xã hội đối với giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế. Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa được cập nhật; nội dung, phương thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường chậm được đổi mới. Chất lượng GDĐH còn thấp so với mặt bằng các nước trong khu vực và trên thế giới.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học còn thiếu, lạc hậu; tỷ lệ phòng học kiên cố thấp; một số địa phương nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất trường, lớp còn hạn hẹp, đầu tư dàn trải, hiệu quả chưa cao; việc huy động các nguồn lực khác còn hạn chế…
- Tác động của dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng đến đổi mới giáo dục đào tạo
Theo số liệu thống kê mới nhất của Viện Thống kê UNESCO (UIS), tính đến ngày 18/4/2020, đã có hơn 1,57 tỉ học sinh, sinh viên ở 191 quốc gia và vùng lãnh thổ bị ảnh hưởng vì Covid-19, chiếm trên 91% tổng số người học. Theo phân tích từ các chuyên gia của UIS, ngay cả khi các trường học mở cửa trở lại, suy thoái kinh tế có nguy cơ làm gia tăng sự bất bình đẳng và có thể đẩy lùi tiến bộ trong việc mở rộng tiếp cận giáo dục và cải thiện chất lượng học tập trên toàn cầu. Theo UIS, đảm bảo chất lượng giáo dục cho tất cả mọi người và đảm bảo rằng những người dễ bị tổn thương nhất không bị bỏ lại phía sau là trách nhiệm của mọi chính phủ và đây là một thách thức lớn.
Các chuyên gia của Viện Quy hoạch giáo dục quốc tế thuộc UNESCO (IIEP), cho rằng cuộc khủng hoảng sẽ có tác động đáng kể ở hai cấp độ khác nhau: Một là mất chi tiêu giáo dục trong thời gian khủng hoảng, cũng như chi phí bổ sung. Hai là suy thoái các nguồn tài chính trong tương lai đối với ngành giáo dục. Họ chỉ ra rằng, sự bất bình đẳng toàn cầu trong tiếp cận giáo dục sẽ mở rộng và cuộc khủng hoảng học tập toàn cầu sẽ ngày càng trầm trọng, làm gián đoạn tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng chỉ ra rằng cuộc khủng hoảng sẽ cung cấp những bài học có thể được sử dụng làm cơ hội. Các quốc gia có thể tận dụng lợi thế này để chuẩn bị tốt cho tương lai của giáo dục trong thế kỷ XXI. “Sức khỏe học đường chưa bao giờ nhận được sự quan tâm mà nó xứng đáng có được trong các chương trình giáo dục của các nước đang phát triển. Cuộc khủng hoảng này chắc chắn là một cơ hội để thiết kế lại chương trình giảng dạy nhằm cung cấp cho sức khỏe trường học nơi mà nó xứng đáng”, các chuyên gia hi vọng.
Tại Hội nghị “Đào tạo trực tuyến của giáo dục đại học trong đại dịch Covid-19” và tháng 4/2020, kết nối tới hơn 300 điểm cầu gồm các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH), nhà cung cấp công nghệ, dịch vụ hạ tầng kỹ thuật hàng đầu của Việt Nam và thế giới, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), Chủ trì Hội nghị đã nhấn mạnh, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời là xu thế của giáo dục thế giới. Tại Việt Nam, việc triển khai đào tạo từ xa theo phương thức đào tạo trực tuyến trong hệ thống GDĐH đã có chủ trương, kế hoạch và lộ trình từ trước.
Trước đây, một số trường ĐH đã chủ động triển khai đào tạo trực tuyến kết hợp với đào tạo tập trung truyền thống. Dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp khiến các quốc gia và vùng lãnh thổ đã phải đóng cửa trường học, trong đó có Việt Nam. Lúc này, vai trò của đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến để thực hiện phương châm “Tạm dừng đến trường, không dừng việc học” được nhìn nhận rõ ràng hơn bao giờ hết. Một số trường gặp khó khăn do chưa kịp chuẩn bị, nhưng đa số cơ sở GDĐH đang dần dịch chuyển từ thế bị động ban đầu sang thế chủ động và tính đến những kịch bản lâu dài hơn. Qua giai đoạn thử thách này, các cơ sở đào tạo được nâng cao nhận thức về đào tạo trực tuyến và tái cấu trúc đội ngũ cán bộ giảng viên.
Dịch Covid-19 gây khó khăn và thiệt hại đến mọi phương diện của lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên, những tác động của đại dịch cũng đang được xem là một cơ hội để đổi mới ngành trong tình hình mới.
* Thiệt hại trước mắt
Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, việc học trực tuyến là giải pháp bắt buộc khi học sinh không thể đến trường. Chưa bàn đến chất lượng mà chỉ xét trên phương diện kinh tế, việc học trực tuyến đã làm tăng chi phí giáo dục lên rất nhiều.
Học sinh học trực tuyến cần có đủ các thiết bị như máy tính, loa, tai nghe có micro, máy in – một bộ như vậy rẻ nhất cũng xấp xỉ 10 triệu đồng. Với những gia đình có hai con nếu học cùng buổi thì đồng nghĩa với việc phải có hai bộ thiết bị để học như vậy.
Vì thế, đại đa số gia đình điều kiện kinh tế eo hẹp, lựa chọn khả thi nhất là mua cho con chiếc điện thoại thông minh giá rẻ. Nhưng dù rẻ thì mỗi chiếc điện thoại có đủ chức năng để học trực tuyến ít nhất cũng vài triệu đồng.
Ở góc độ toàn ngành, việc chuyển sang giảng dạy trực tuyến khiến chi phí giáo dục tăng lên cấp số nhân. Chỉ tính từ đầu học kỳ 2 của năm học 2020 – 2021, toàn bộ chương trình đào tạo của ngành đã bị xáo trộn, gây phát sinh thêm nhiều chi phí để xây dựng, thiết kế lại chương trình. Đó là chưa kể còn các chi phí cho công tác tiêu độc, khử trùng, phòng, chống dịch bệnh trong nhiều tháng qua và các chi phí khác chưa thống kê hết được.
* Tác động lâu dài
Trong khi chi phí GD&ĐT tăng lên thì dịch vụ giáo dục (DVGD) lại suy giảm mạnh. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, DVGD có mức suy giảm kinh tế lớn nhất so với tất cả lĩnh vực.
Báo cáo đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến nền kinh tế và các khuyến nghị chính sách của Trường Đại học Kinh tế quốc dân vừa được công bố cho thấy, mức suy giảm DVGD tương ứng với diễn biến dịch bệnh. Theo đó, tính đến tháng 4/2020 sau khi đã kiểm soat được dịch Covid-19, DVGD suy giảm 35% với chuyển đổi học qua mạng. Nếu dịch kéo dài đến hết tháng 6, mức suy giảm có thể lên tới 60% và phải cơ cấu ngành.
Đây rõ ràng là những thiệt hại rất lớn, nhưng là trước mắt. Về lâu dài, ngành GD&ĐT sẽ chịu những tác động lớn do dịch Covid-19.
Một vấn đề cũng cần suy nghĩ nghiêm túc là phát triển mô hình học trực tuyến. Đại dịch Covid-19 là thách thức, nhưng cũng là cơ hội để ngành Giáo dục từng bước thích ứng với thời đại 4.0.
Nhưng để phát triển mô hình giáo dục này còn rất nhiều việc phải làm; đó là con người, phương tiện, chương trình giáo dục… Ngoài ra, mô hình học trực tuyến chỉ khả thi khi điều kiện kinh tế của gia đình học sinh đáp ứng được các đòi hỏi về trang thiết bị học tập. Nhưng hiện nay, đại đa số học sinh đều có gia cảnh không khá giả, nhất là học sinh DTTS ở miền núi thì học trực tuyến vẫn quá tầm tay.
Vậy nên, cùng với việc xây dựng mô hình học trực tuyến một cách bài bản thì vấn đề then chốt vẫn là thúc đẩy các giải pháp phát triển kinh tế, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, bảo đảm tất cả học sinh cả nước, đặc biệt là vùng DTTS, đều đủ điều kiện về trang thiết bị phục vụ học trực tuyến.
Tuy nhiên, thực tiễn những năm học vừa qua cũng đặt ra không ít thách thức cả trước mắt và lâu dài cho ngành giáo dục. Đó là tình trạng thừa, thiếu giáo viên vẫn chưa có giải pháp khắc phục triệt để. Việc rà soát, sắp xếp hệ thống trường học chưa thật sự hiệu quả, vẫn còn tình trạng thừa thiếu trường lớp, học sinh phải đi học xa nhà. Nhiều địa phương chưa quan tâm dành quỹ đất để xây dựng hệ thống trường học, nhất là hệ mầm non trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất. Các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo cũng thiếu sự quan tâm đầu tư đúng mức, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước. Việc dự báo nhu cầu đào tạo các ngành nghề còn nhiều hạn chế dẫn đến xảy ra tình trạng một số ngành thừa thiếu cục bộ, trong khi một số ngành đào tạo khác có nhu cầu lại chưa được đầu tư để phát triển. Mặt khác, công tác giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên chưa đáp ứng được yêu cầu phù hợp thực tiễn. Tình trạng dạy thêm, học thêm tiếp tục diễn ra tại một số địa phương cũng làm dư luận băn khoăn tạo gánh nặng và sức ép cho phụ huynh và học sinh, ảnh hưởng tới hình ảnh của người giáo viên.
Dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp gây không ít khó khăn cơ sở GD, đặc biệt đời sống đội ngũ nhà giáo trường ngoài công lập. Đồng hành với thầy cô, nhà trường, Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng cho biết: Bộ GD&ĐT sẽ phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành có liên quan để các chính sách hỗ trợ của Chính phủ cho các đối tượng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 sớm được ban hành, áp dụng, kịp thời tháo gỡ khó khăn.
- Một số giải pháp tăng cường đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong thời gian tới
Rút kinh nghiệm 5 năm đầu để có những giải pháp căn cơ, sáng tạo, thực hiện hiệu quả hơn trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban Chấp hành T.Ư khóa XI và hoàn thành tốt mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đề ra. Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng lực quản trị, gắn với thực hiện dân chủ trong hoạt động của các cơ sở giáo dục. Tích cực chuẩn bị các điều kiện để thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, nhất là đối với lớp 1.
Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhà trường với vai trò là trung tâm cùng toàn xã hội tạo chuyển biến căn bản trong giáo dục đạo đức, lối sống, lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện; rèn luyện kỹ năng sống trong học sinh, sinh viên.
Năm học mới 2020 – 2021 với những thành tựu và khó khăn đan xen, nhưng chúng ta tin tưởng vào những quyết sách mà Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục đã và đang triển khai trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Với khí thế và niềm tin về một năm học mới thành công, mỗi cán bộ quản lý, thầy giáo, cô giáo cùng phấn đấu, nỗ lực không ngừng, luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề, không ngừng đổi mới, sáng tạo. Các em học sinh, sinh viên tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, noi theo các thế hệ cha anh đi trước, phấn đấu, tìm tòi, nghiên cứu đạt được thành tích cao trong học tập, viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc và hội nhập sánh vai quốc tế. Bên cạnh đó, sự nghiệp trồng người cần sự chung tay, góp sức nhiều hơn nữa của các cấp ủy đảng, chính quyền; của mỗi bậc cha mẹ học sinh nhằm đạt những mục tiêu đề ra, góp phần thiết thực và hiệu quả nhất vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước…
Trước thực trạng trên, để thực hiện hiệu quả việc đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần tập trung vào những giải pháp sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách hành chính về GDĐT. Các địa phương cần rà soát, quy hoạch mạng lưới trường lớp phù hợp, tạo điều kiện cho người dân tham gia học tập. Triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH năm 2018 và Luật Giáo dục năm 2019; thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
– Cải tiến Chương trình học các cấp, nhất là cấp phổ thông. Song song với việc xây dựng Bộ Chuẩn Kiến thức và Kỹ năng, việc xây dựng lại chương trình học hiện đại cho các lớp ở các cấp đào tạo hàn lâm – nghiên cứu và đào tạo nghề i). Mầm non – Mẫu giáo, ii). Tiểu học, iii). THCS, iv). THPT, và v). Trung học chuyên nghiệp, vi). Cao đẳng chuyên nghiệp, vii). Đại học cần được Bộ GD&ĐT gấp rút tổ chức trên bình diện quốc gia, có sự tham gia của chuyên gia giáo dục trong và ngoài nước. Các trường không thể tự tổ chức cải tiến chương trình học. Không thể để tồn tại chương trình học hiện tại, quá nặng nề và dàn trải với quá nhiều môn học lý thuyết mà thiếu thời gian trải nghiệm thực tế.
Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQLGD các cấp. Rà soát, sắp xếp đội ngũ giáo viên bảo đảm quy định về định mức số lượng, chuẩn giáo viên đối với các cấp học; không để xảy ra tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ. Nâng cao đạo đức nhà giáo, tăng cường chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các quy định về đạo đức nhà giáo. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách cho đội ngũ nhà giáo và CBQLGD.
– Đào tạo mới giáo viên – Cải tiến trường sư phạm. Cội rễ của đổi mới giáo dục là người giáo viên. Có giáo viên đổi mới sẽ có giáo dục mới. Nhưng muốn có giáo viên đổi mới phải có chương trình đào tạo giáo viên hiện đại hơn. Do đó, Bộ GD&ĐT cần khẩn trương cải tiến các trường sư phạm cũ một cách toàn diện.
Chương trình đào tạo các thầy cô giáo của thế hệ kế tiếp phải có kiến thức chuyên môn sâu và có kỹ năng dạy hiệu quả cao, phải loại bỏ các môn học ít cần thiết hoặc kém hiệu quả để dành thời lượng học môn chuyên môn và thêm thời gian để các giáo sinh thực tập giảng dạy theo phương pháp mới hơn.
Điều rất cần thiết là các trường sư phạm phải có giải pháp đào tạo giáo viên đáp ứng nhu cầu của Chương trình mới. Song song đó là công tác bồi dưỡng, đào tạo lại cho đội ngũ nhà giáo các cấp học. Để làm sao khi Chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai thì sẽ được thông suốt trong hệ thống, từ trường sư phạm cho đến các trường học.
Trường sư phạm cũng cần phải chú ý nâng cao trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ nhà giáo. Khi thầy giỏi chuyên môn, giỏi ngoại ngữ thì trò tự khắc sẽ được nâng cao năng lực, đặc biệt là giao tiếp song ngữ. Nếu không thì người Việt luôn bị “lép vế” về trình độ ngoại ngữ với dân ASEAN, dân Nam Á, dân Trung Đông, dân châu Phi, châu Âu và châu Mỹ khi hội nhập quốc tế.
Ba là, nâng cao chất lượng giáo dục, triển khai chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. Đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả của giáo dục thường xuyên; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên. Thực hiện tốt chủ trương giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, hướng dẫn các địa phương thực hiện có hiệu quả Đề án giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông. Triển khai hiệu quả các giải pháp của Đề án hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp nhằm khơi dậy tinh thần khởi nghiệp cho học sinh ngay từ cấp học phổ thông.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của Hội đồng trường cơ sở GDĐH. Các cơ sở GDĐH cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực, tăng cường kỹ năng ứng dụng và thực hành, chú trọng đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội. Tăng cường gắn kết doanh nghiệp với cơ sở GDĐH cùng tham gia xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo, thực tập và tạo cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học và trình độ đào tạo. Phát triển, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ, đặc biệt là đội ngũ giáo viên phổ thông, đáp ứng yêu cầu và tiến độ triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới và dạy các môn học khác bằng ngoại ngữ. Tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên theo chuẩn đầu ra và trong quá trình GDĐT. Tăng cường các điều kiện dạy và học ngoại ngữ theo hướng ứng dụng triệt để CNTT; đầu tư có trọng điểm, hệ thống hỗ trợ dạy và học ngoại ngữ trực tuyến đáp ứng mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và người học.
Bốn là, tăng cường công tác khảo thí và kiểm định, đánh giá chất lượng giáo dục. Tổ chức giám sát, đánh giá các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục; kiểm tra việc tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ, tin học, công tác quản lý, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, công tác bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục. Từng bước xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu các điều kiện bảo đảm chất lượng của các cơ sở giáo dục để quản lý chất lượng bảo đảm thực chất và hiệu quả.
Đổi mới tư duy quản lý giáo dục. Cần cải tiến tổ chức, phương pháp quản lý, nhằm phát huy sáng kiến chủ động của các cấp, từng bước khắc phục bệnh tập trung quan liêu chỉ chú trọng đầu vào mà buông lỏng đầu ra của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Cần tăng cường bộ máy thanh tra, kiểm định chất lượng đào tạo, đi đôi với mở rộng quyền tự chủ, trong khuôn khổ quy định, cho các cơ sở giáo dục, về mọi vấn đề thuộc phạm vi tổ chức, chương trình, mở ngành đào tạo, kế hoạch giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác…
Năm là, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy, học và quản lý giáo dục. Xây dựng và đưa vào khai thác cơ sở dữ liệu trực tuyến về GDĐH; hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; tích hợp các hệ thống thông tin quản lý ngành hiện có vào cơ sở dữ liệu ngành; xây dựng và triển khai các phần mềm quản lý, kết nối liên thông dữ liệu với phần mềm cơ sở dữ liệu ngành. Tăng cường ứng dụng CNTT trong dạy học, kiểm tra, đánh giá và quản lý giáo dục, quản trị nhà trường; thực hiện giải pháp tuyển sinh trực tuyến đầu cấp học và sử dụng hồ sơ điện tử (sổ điểm, học bạ, sổ liên lạc); triển khai mô hình giáo dục điện tử, lớp học thông minh ở những nơi có điều kiện. Triển khai giải pháp dạy học kết hợp (blended learning), nâng cao chất lượng đào tạo CNTT trong GDĐT; bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng ứng dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo.
Tăng cường cơ sở vật chất bảo đảm chất lượng các hoạt động GDĐT. Chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, đặc biệt là lớp 1 năm học 2020 – 2021; triển khai có hiệu quả Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2017 – 2025. Rà soát các tiêu chí về cơ sở vật chất, thiết bị của các trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia bảo đảm đúng quy định. Xây dựng và thực hiện kế hoạch bổ sung, duy tu, bảo dưỡng cơ sở vật chất, thiết bị đối với các tiêu chí trường chuẩn quốc gia đã quá hạn, bị xuống cấp.
Sáu là, thực hiện hội nhập quốc tế trong GDĐT. Xây dựng và tổ chức triển khai Chiến lược hội nhập quốc tế trong GDĐT của Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 tầm nhìn 2045. Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, GDĐH, giáo dục thường xuyên đẩy mạnh hội nhập quốc tế thông qua việc hợp tác với các cơ sở giáo dục có uy tín của nước ngoài hoặc được cấp có thẩm quyền công nhận.
Tăng cường thu hút các cơ sở giáo dục nước ngoài có uy tín hoặc được cấp có thẩm quyền công nhận vào Việt Nam dưới hình thức thành lập các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên danh, liên kết với các cơ sở giáo dục của Việt Nam theo quy định của pháp luật./.
Bảy là, Đối với tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kiến nghị Chính phủ có chính sách “gỡ khó” cho ngành giáo dục vượt qua dịch bệnh. Xem xét hỗ trợ chi phí vệ sinh phòng dịch, tiêu độc, khử trùng đối với toàn bộ các cơ sở giáo dục để giảm các chi phí phát sinh trong công tác phòng, chống bệnh COVID-19 và bổ sung nguồn hỗ trợ các Sở GD&ĐT tổ chức xây dựng bài giảng điện tử, trực tuyến dùng chung.
* *
*
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là hết sức đúng đắn và cần thiết trong giai đoạn cách mạng Công nghiệp 4.0, nền giáo dục đang đứng trước với nhiều cơ hội và thách thức mới trong thời kì hội nhập kinh tế, quốc tế. Chúng ta cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên nhân viên đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất năng lực người học; tăng cường cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý trường học. Đồng thời, cam kết chất lượng giáo dục và đào tạo của từng cấp học, bậc học và cơ sở giáo dục theo chuẩn phát triển phẩm chất, năng lực người học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Chỉ thị số 2268/CT – BGDĐT ngày 08/8/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ và giải pháp năm học 2019 – 2020 của ngành Giáo dục.
————————–
Tác giả bài viết:
–Vũ Thị Hà, NCS. Phó trưởng Khoa Lý luận chính trị, khoa học xã hội nhân văn và Tâm lý, Trường Cao đẳng Cảnh sát Nhân dân 2- Bộ Công An, Q.Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh;
– Nguyễn Anh Tuấn, Thạc sĩ Chính trị viên, Đại đội Liên kết nước ngoài, Tiểu đoàn 1, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Hà Nội
(Bài viết đã được công bố trong Tuyển tập công trình khoa học Hội thảo quốc gia mang tên “ Giáo dục phát triển toàn diện – Thực trạng và giải pháp xét từ bình diện Tâm lý học và Giáo dục học” do Hội Khoa học Tâm Lý-Giáo dục Việt Nam tổ chức ngày 30 – 31 tháng 10 năm 2020 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020, tr.524-535).

