Hình thành động cơ học tập cho học sinh từ môi trường thân thiện

Vần đề động cơ là vấn đề trung tâm trong cấu trúc nhân cách…Nói đến động cơ là nói đến sự lựa chọn của con người, con người thực hiện một hành vi nào đó do bị thúc đẩy bởi điều gì, cái gì…. Động cơ là khái niệm dùng để phản ánh ở một mức độ cao hơn, trong một hoàn cảnh nào đó, sự lựa chọn hành vi sẽ xuất hiện khi có hang loạt kích thích đồng thời đến chủ thể. Nhà tâm lý học A.N.Leonchiep cho rằng “Thứ nhất động cơ và nhu cầu là hai hiện tượng tâm lý gắn bó với nhau chặt chẽ. Thứ hai, động cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được thể hiện trên tri giác, biểu tượng tư duy…Hay nói cách khác, đó chính là sự phản ánh chủ quan về đối tượng thỏa mãn nhu cầu.”(4).  J.Piaget thì cho rằng  tính định hướng tích cực, có chọn lọc của hành vi tạo thành bản chất của hiện tượng được xác định là động cơ . Ronald E.Smit thì cho rằng động cơ như là một quá trình bên trong có ảnh hưởng đến xu hướng, tính bền vững và sức mạnh của hành vi có mục đích

Có thể nói có khá nhiều ý kiến khác nhau về động cơ nhưng đều có chung ý tưởng là, động cơ là một hiện tượng tâm lý thúc đẩy, qui định sự lựa chọn và định hướng hành vi của con người… Và vì vậy, việc nghiên cứu động cơ chính là lý giải nguyên nhân dẫn đến hành vi… Vì vậy, nghiên cứu động cơ với tư cách là một quá trình nghiên cứu lý thuyết, chúng ta sẽ quan tâm đến các quan điểm lý luận về động cơ, cấu trúc của động cơ…Nhưng để có thể tạo động cơ  cho các chủ thể, hẳn chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến cả các yêu tố bên ngoài tác động đến việc lựa chọn thực hiện các hành vi cụ thể cùng với các yếu tố bên trong. Lewin có đề cập đến khái niệm “không gian sống”, như muốn nhấn mạnh đến sự thống nhất giữa chủ thể với môi trường. Không gian sống- đó là môi trường và nhân cách tác động với nhau, là tổng thể những sự kiện tâm lý tồn tại phụ thuộc vào nhau. Hành vi của con người chịu sự tác động, qui định bởi một thể thống nhất các thành phần nhân cách và môi trường. Trong không gian sống, mọi vật không thể xuất hiện đơn độc mà luôn trong quan hệ với con người, hay nói cách khác, mối quan hệ là trong mối quan hệ với nhu cầu và mong muốn của con người. Do đó, để có thể hiểu được hành vi của con người, chúng ta cần xem xét mối quan hệ qua lại giũa con người và môi trường xung quanh.

Một khi chủ thể có nhu cầu nhưng không có đối tượng để thỏa mãn thì chủ thể cũng sẽ không có động lực gì cả, vấn đề là chúng ta cố gắng khơi dậy nhu cầu từ các chủ thể. Mặt khác, ngay cả khi có đối tượng thỏa mãn nhưng chủ thể không có điều kiện hoặc không thể thỏa mãn được nhu cầu thì động cơ cũng có thể sẽ bị triệt tiêu…các yêu tố bên ngoài nhiều lúc trở thành các yếu tố tích cực để hình thành động cơ, thúc đẩy chủ thể hành động… Học tập là một hoạt động không  chỉ chịu tác động từ ý thức hoặc những “động cơ trong sáng” mà còn có thể hình thành từ môi trường, từ ứng xử của Thầy Cô, từ mối quan hệ giữa các thành viên trong hoạt động giáo dục, sư phạm. Chính vậy, việc tạo dựng môi trường học tập tốt là một trong các cách thức có thể hình thành động cơ học tập mạnh mẽ cho người học.

Hoạt động học tập diễn ra có đối tượng cụ thể là các tri thức khoa học với mục đích hình thành năng lực mới cho người học. Hoạt động học tập là quá trình làm việc có sản phẩm đặc thù là năng lực mới của người học chứ không phải là quá trình làm việc để mang lại các sản phẩm xã hội thông thường, do đó đòi hỏi không chỉ nỗ lực của người học mà còn có vai trò của người THẦY trong việc động viên, khuyến khích tạo động cơ học tập cho người học.

Định hướng giáo dục nước ta đến năm 2020 đã được xác định khá rõ là “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” Định hướng này đã được Bộ chính trị đưa ra trong Kết luận số 242-TB/TƯ ngày 15/4/2009. Trong điều kiện phát triển đa dạng các hình thức họat động và thích ứng với sự chuyển hóa mềm của xã hội, ngành Giáo dục đang đối diện với nhiều cơ hội để tự làm mới mình và xác định những chủ trương lớn phù hợp với tính đặc thù giáo dục Việt Nam để thực sự có một nền giáo dục tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc. Một trong những điều kiện để có thể có nền giáo dục tiên tiến là cần có một tư duy giáo dục đổi mới, sắc bén, điều này cũng đã được Bộ Chính trị lưu ý khi nhận xét về những khuyết điểm trong chỉ đạo gần đây: “Những hạn chế, khuyết điểm như trên là do quán triệt không đầy đủ, thiếu sự chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên trong quá trình thực hiện Nghị quyết T.Ư 2. Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Ðảng thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong việc tham mưu với Ðảng về những vấn đề phức tạp mới nảy sinh; thiếu những quyết sách đồng bộ, hợp lý ở tầm vĩ mô để thúc đẩy phát triển giáo dục; tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế”. Một trong những vấn đề cần bàn luận là tạo dựng một môi trường giáo dục hiệu quả với những trường học thân thiện, nhà trường thân thiện là một nhà trường phù hợp với xu thế phát triển, phù hợp với nền giáo dục tiên tiến. Trường học thân thiện không chỉ là một mô hình ứng xử thân thiện, môi trường thân thiện…mà còn là một chương trình học thân thiện, một định hướng giáo dục thân thiện, một mục tiêu thân thiện…Tất cả mọi điều thân thiện bắt đầu từ một hình thức có thể phát huy tối đa các hình thức giáo dục đa dạng trên cơ sở chương trình khung để đạt tiêu chuẩn nhất định, đó là môi trường giáo dục mở.

Trường học thân thiện bắt đầu từ mối quan hệ giữa các chủ thể của các mối quan hệ, trong đó quan hệ giữa người dạy  với người học có ý nghĩa đặc  biệt quan trọng. Người Thầy giáo hiện đại trong một nhà trường tiên tiến được xã hội tri giác và kỳ vọng như thế nào, điều đó không chỉ nghĩ đến là được mà còn phải xác định lộ trình và có những cách thức phù hợp. Ngày nay người ta nói nhiều đến sự tiên tiến về trang thiết bị, về nội dung và phương pháp giảng dạy, về các chế độ đãi ngộ đặc thù …nhưng điều quan trọng hơn góp phần làm sáng giá ngành giáo dục, đó là đội ngũ cốt lõi, trung tâm của chất lượng và “thương hiệu” giáo dục ,là hình ảnh, là chân dung tâm lý của các Thầy Cô giáo . Tuy nhiên, nhiều người cho rằng hình ảnh, “thương hiệu” của quí Thầy Cô giáo lại được xem như là mặc nhiên không cần phải nỗ lực trau chuốt…. Phải chăng đó là một kiểu tư duy lạc quan hay là cách thức nhìn nhận chủ quan hoặc là sự né tránh nhạy cảm…? Nhà trường thân thiện có cần Thầy Cô và học trò thân thiện….?

Tính mở đầu tiên của giáo dục và của nhà trường bắt đầu từ quan hệ mở giữa Thầy và Trò. “Thân thiện” có thể hiểu là đối xử thân thiết nhân ái với nhau, quan hệ giữa con người thân thiện trong môi trường thân thiện là quan hệ bình đẳng, dân chủ, là sự bao bọc, chia sẻ , hợp tác và thể hiện tinh thần tất cả vì cộng đồng đầy tình người và nhân danh đạo lý. Thân thiện xuất phát từ chức năng của nhà trường, từ yêu cầu của xã hội, từ mệnh lệnh của cuộc sống, từ trách nhiệm của nhà giáo và chính từ tình yêu thương con người, môi trường thân tiện không thể và không chỉ là những hình thức “giao tiếp” hoặc những qui định ứng xử kiểu “văn minh công sở”. Sukhomlinski, một nhà giáo nổi tiếng đã từng tâm niệm hiến dâng trái tim mình cho học trò qua thực tiễn giảng dạy, giáo dục của mình, tấm gương ấy hẵn vẫn còn trong lòng Thầy Cô giáo hôm nay : Nói đến Sukhomlinski là nói đến tấm lòng, cái quán xuyến trong toàn bộ cuộc đời cũng như trong các tác phẩm của Xukhomlinski là lòng yêu thương con người, lòng trân trọng những giá trị làm cho con người trở nên bất tử. Yêu thương con người trước hết là yêu thương thế hệ trẻ. Đúng như tuyên ngôn của ông “Trái tim tôi hiến dâng cho trẻ”, ông đã từng viết: “Nếu có ai hỏi cái gì là chủ yếu trong cuộc đời tôi, tôi không lưỡng lự mà trả lời rằng, đó là lòng yêu thương trẻ”[9]. Chính lòng yêu thương trẻ sẽ là chất kích thích tài năng con người bộc lộ, chính thái độ trân trọng người học sẽ giúp họ cảm thấy mình được khẳng định và do đó, họ có nhu cầu thể hiện và hòa nhập vào hoạt động thực tiễn.. Trước đó  A. S.Makarenko (1888 – 1939 ), nhà giáo dục Xô viết nổi tiếng, suốt đời theo đuổi mục đích lớn: “con người chỉ có một chuyên môn, một chuyên môn độc nhất, là trở nên cao quí, trở nên một con người chân chính”[8]. Đó là mục đích sống của một đời người, đồng thời là mục đích giáo dục của mỗi nhà giáo đối với học trò mình.Tư tưởng lớn nhất của Makarenko về giáo dục là lòng tin không gì lay chuyển nổi ở bản chất tốt đẹp của con người, là chủ nghĩa nhân đạo Makarenko. Bằng tư tưởng lớn này, Makarenko đã để lại cho đời một quan điểm nhân đạo đầy lạc quan – một giả thuyết lạc quan về con người ngay trong những hoàn cảnh bi quan! Makarenko từng nói rõ: ” Tôi không nghĩ rằng có những người bản chất hư hỏng. Chỉ cần đặt họ sống trong những điều kiện của cuộc sống bình thường, đòi hỏi họ những yêu cầu nghiêm túc nhất định, tạo cho họ những điều kiện để hoàn thành những yêu cầu đó, thì những con người đó sẽ trở thành bình thường như những người bình thường khác, về mọi mặt”[8]. Vì vậy, bao giờ cũng phải chiếu cái tốt nhất của con người ra phía trước. Như vậy,  việc làm đầu tiên của giáo dục là đem lại niềm vui cho con người bằng cách thức tỉnh ý thức của người đó, làm cho nó có một thái độ đúng đắn hơn trong việc tổ chức đời sống của mình”. Nghĩa là phải làm cho con người sung sướng, dìu dắt con người đến những viễn cảnh tốt đẹp hơn.

Nhà trường thân thiện phải bắt đầu từ hình ảnh tài ba, mẫu mực, hiên ngang và đầy nhân ái của người Thầy, người Thầy đem con chữ cho học trò , người Thầy không thể “bán chữ” cho trò hoặc “kinh doanh chữ nghĩa” với phụ huynh học sinh. Không phải tất cả nhưng hiện tượng “trao đổi’ để hai bên người học và người dạy “cùng có lợi” là hiện tượng có thật và điều đó làm đau lòng những người tâm huyết, làm giảm sút niềm tin từ xã hội đối với  đội ngủ những người Thầy, từ các cấp học, từ các hình thức đào tạo khác nhau. Tại sao ngày nay vẫn còn có những con sâu làm rầu nồi canh như vậy? Loại trừ các vấn đề về chế độ đãi ngộ, về thu nhập của Thầy Cô giáo thì điều gì làm “mất giá” ngành giáo hôm nay? Phải chăng quan niệm về một nhà trường tiên tiến chỉ là những nội dung, phương pháp giảng dạy tiên tiến? Phải chăng chỉ cần trang thiết bị hiện đại với những khuôn viên hoàn hảo, với bộ mặt khang trang sánh vai cùng các mô hình nhà trường hiện đại của thế giới? Chúng ta không phủ nhận vai trò tích cực của những vấn đề được đề cập trên đây nhưng nếu  không có mối quan hệ thân thiện với sự tương tác trách nhiệm và hiệu quả  trên cơ sở tính nhân văn trong quan hệ giữa con người với nhau thì chắc chắn sẽ không thể có được một nhà trường tiên tiến trong một nền giáo dục tiên tiến được. Nền giáo dục chỉ được xác nhận là tiến tiến khi tất cả các tiêu chí giáo dục đều phản ánh được tính chất tiên tiến hoặc định  hướng tiên tiên trong đó tiêu chí đầu tiên và thể hiện bản chất tiên tiên nhất là mối quan hệ tiên tiến.

Để thực sự xây dựng được mối quan hệ tích cực giữa các đối tượng tham gia vào quá trình giáo dục, đặc biệt là quá trình giảng dạy, điều quan trọng đầu tiên là phải có những tác động để làm chuyển hóa, thay đổi nhận thức của xã hội về giá trị của những người Thầy, sự thay đổi không phải chỉ ở các câu khẩu hiệu hoặc ở những con số thống kê về sự quan tâm của các cấp chính quyền đối với việc xây thêm trường mới hay sự tham gia mùa hè xanh của Thầy Trò hoặc bao nhiêu học bổng được cấp. Nhận thức xã hội phải được thay đổi từ  tư duy giáo dục, từ quan điểm về nền giáo dục cộng đồng, về nhà trường không hề có sự phân biệt giàu nghèo, ngôn ngữ, văn hóa, dân tộc…với mối quan hệ Thầy-Trò nhân ái…Việc xây dựng nhà trường thân thiện cần được đầu tư tích cực và thỏa đáng với qui mô toàn quốc để mô hình này không chỉ là nhận thức của ngành giáo dục mà còn là một điểm sáng của cả xã hội học tập…Để thực hiện được điều này, có mấy vấn đề trao đổi thêm :

– Hãy trả lại môi trường sư phạm cho những trường sư phạm, trường sư phạm chỉ để dạy sinh viên trở thành giáo viên, trở thành những nhà giáo chân chính. Nhiều năm gần đây, một số trường sư phạm biến mất, tên gọi sư phạm được thay thế bằng trường đa ngành chung chung, trong đó có Khoa sư phạm…Sự mở rộng chức năng này là điều cần thiết và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và của các địa phương nhưng chỉ thích hợp với tính đa ngành ngoài ngành sư phạm. Một số trường sư phạm ngày nay cũng có các chương trình đào tạo …ngoài sư phạm để đào tạo những người có trình độ đại học hoặc cấp học nào đó nhưng không nhất thiết trở thành nhà giáo. Chính tính “đa ngành” này đã làm không gian “mô phạm” môi trường sư phạm không còn hoàn toàn “tinh khiết” như trường chuyên ngành sư phạm. Việc sinh viên được học nhập môn nhà giáo rất quan trọng, không chỉ để các bạn nhận thức đúng về ngành nghề mà còn là dịp để các bạn sinh viên sư phạm, các nhà giáo tương lai định hướng được hình ảnh của mình, hình dung được những yêu cầu của xã hội về cách thức ứng xử của một nhà giáo như thế nào ngay từ phút giây đầu tiên “chập chững” vào trường sư phạm. Điều này không có nghĩa là các nhà giáo sẽ được “tu kín” nhưng là một hình thức sinh hoạt chuyên môn có tính thiêng liêng, hình thành cho các nhà giáo tương lai có thói quen sư phạm, tác phong sư phạm và quan trọng hơn nữa là cảm nhận được… “thiên chức” của Thầy Cô giáo. Thầy cô giáo giảng dạy ở bậc học phổ thông nhất thiết phải được đào tạo từ các trường sư phạm, các trường sư phạm chỉ nên chuyên đào tạo những nhà giáo.

– Qui mô trường lớp ngày càng lớn, số lượng học sinh ngày càng đông nhưng cơ sở vật chất chưa hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn. Việc tuyển sinh vào lớp 10 năm nào cũng gặp không ít khó khăn vì nhiều lý do, nếu tổ chức mô hình Trường trung học cấp 2-3 ở một số địa bàn có điều kiện thì sự ổn định nguồn học sinh có thể sẽ được duy trì .

– Trong nhà trường, nếu cố gắng làm giảm nhẹ tâm lý môn chính môn phụ thì việc giáo dục toàn diện vẫn luôn là phương châm nhất quán và chính xác. Điều này có thể nghiên cứu tăng cường thời lượng cho các môn khoa học xã hội, nhân văn, đặc biệt là Bộ môn Lịch sử , trong đó lịch sử Việt Nam cần được chú trọng đúng mức.

– Thành lập một Trung tâm nghiên cứu giáo dục bồi dưỡng  giáo viên trực thuộc Sở để nghiên cứu, thực hiện đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ, tay nghề và kỹ năng đa dạng cho giáo viên thuộc tất cả các ngành học, cấp học từ bậc học mầm non đến Cao đẳng chuyên nghiệp trên địa bàn. Hàng năm, trong dịp hè, Các Thầy Cô giáo đều được sinh hoạt chuyên môn nhưng tính chất vẫn mang tính đại chúng. Việc đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy cần được đầu tư và thực hiện nhất quán từ đội ngũ những  chuyên gia tâm huyết và có trình độ chuyên môn đáng tin cậy, đặc biệt là nắm vững và am hiểu đặc thù giáo dục của địa phương .

– Việc soạn bài giảng, soạn giáo án là nhiệm vụ của giáo viên nhưng nếu tất cả mọi giáo án hoặc bài giảng đều phải hình thành trên mẫu đã thiết kế sẵn hoặc theo những yêu cầu không thể cải tiến…thì có thể làm hạn chế tính sáng tạo trên tinh thần “ngẫu hứng” có mục tiêu của đội ngũ thầy Cô giáo tài năng.

Đinh Phương Duy

Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý- Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh

(Bài đã được công bố trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Động cơ học tập của người học và trách nhiệm của người dạy – Thực trạng và giải pháp”,  tổ chức tại Bà Rịa-Vũng Tàu ngày 17-18/7/2015, NXB Đại học quốc gia Hà Nội ấn hành, Hà Nội 2015, tr.334-339).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phạm Minh Hạc: Tâm lí học nghiên cứu con người trong thời đại mới, Nxb GD, 2006.
  2. Phạm Minh Hạc: Tâm lí học Vưgôtxki, Nxb Gd, 1997, tập 1.
  3. Đào Thị Oanh (chủ biên): Vấn đề nhân cách trong tâm lí học ngày nay, Nxb GD,2007.
  4. N. Leonchiev : Hoạt động-Ý thức-Nhân cách. NXB GD Hà Nội 2000.
  5. Ph. Lomov: Những vấn đề lí luận và phương pháp luận tâm lí học, Nxb ĐHQGHN, 2000.
  6. Phan Trọng Ngọ (chủ biên): Các lý thuyết phát triển tâm lí người, Nxb ĐHSP, 2003.
  7. Nguyễn Ngọc Phú: Lịch sử Tâm lí học Nxb ĐHQGHN, 2004.
  8. Hà Nhật Thăng, Đào Thanh Âm: Lịch sử giáo dục thế giới. Nxb Giáo dục Hà nội, 1998.
  9. Xukhomlinxki, V. A Trái tim tôi hiến dâng cho trẻ. Nxb Giáo dục Hà Nội 1993.
  10. Luật giáo dục.Nxb Chính trị Quốc gia 1999.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *