Mở rộng động cơ học tập của tăng ni trong trách nhiệm chấn hưng phật giáo Việt Nam

  1. Vấn đề

Đặt vấn đề mở rộng động cơ học tập của tăng ni trong mối quan hệ với hoạt động chấn hưng Phật giáo Việt Nam chính là đặt vấn đề  về cải cách giáo dục Phật giáo Việt Nam, nâng cao mục tiêu giáo dục Phật giáo Việt Nam.

Xét vấn đề ở góc độ này, cũng chính là đi tìm những con đường mới để Phật giáo đóng góp nhiều hơn cho xã hội, gia tăng tầm ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam đối với giáo dục của nước nhà.

Rộng hơn, đây là vấn đề phát triển của chính Phật giáo, là vấn đề thích nghi của Phật giáo Việt Nam đối với thời đại, là sự khẳng định mới nhiệm vụ và tầm vóc của Phật giáo Việt Nam trong bước đường đi lên chung của đất nước.

  1. Lịch sử vấn đề

Mở rộng động cơ học tập của tăng ni là một thành tố quan trọng trong lịch sử chấn hưng Phật giáo Việt Nam, một tiến trình diễn ra trong hơn nửa thế kỷ.

Trước thập niên 1920, thập niên khởi đầu chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam đã có một cái nhìn khác về giáo dục.

Phật giáo lúc đó là một tôn giáo thiên về cúng bái, đầy dẫy mê tín, hủ tục. Người tu sĩ Phật giáo Việt Nam cách đây 100 năm chỉ làm nhiệm vụ tế tự.

Vì vậy, giáo dục Phật giáo Việt Nam lúc đó chỉ là giáo dục tự viện, giáo dục thầy truyền cho trò, đơn lẻ, khép kín. Điều này do mục tiêu đào tạo và hoạt động của người tu sĩ quy định. Người tu sĩ Phật giáo khi ấy chỉ cần biết rành về nghi lễ, về hoạt động cúng bái, coi ngày tháng phong thủy, vận hạn, bói toán. Điều đó, dẫn tới Phật giáo Việt Nam rơi vào khủng hoảng giáo dục. Mục tiêu giáo dục Phật giáo thấp kém, nội dung giáo dục đơn giản, như một hình thức truyền nghề thô sơ. Vì vậy, động cơ học tập của người tu sĩ cũng hạn chế, thu hẹp. Người tu sĩ là thầy cúng, thầy bói, thầy địa lý, có thể hơn một chút là thầy thuốc nam, nhưng lại không có vai trò quan trọng nhất, là thầy giáo.

Không có động cơ học tập để trở thầy thầy giáo, tất yếu giáo dục tăng ni có một lỗ hổng lớn. Chính lỗ hổng đó dẫn đến sự suy thoái của Phật giáo Việt Nam. Động cơ học tập thấp dẫn đến kiến thức xã hội thấp, trình độ sư phạm thấp. Năng lực của thành phần là bộ khung của Phật giáo thấp, tất yếu Phật giáo rơi vào suy thoái, ngày càng xuống dốc.

Các nhà chấn hưng Phật giáo Việt Nam đã sớm nhận thức về tình trạng này. Vì vậy, chấn hưng giáo dục tăng ni đã trở thành nội dung căn bản của chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Việt Nam dần dần xác định lại mục tiêu giáo dục. Giáo dục Phật giáo không phải là truyền nghề cúng bái, làm thuốc Nam hay coi bói, mà giáo dục Phật giáo phải góp phần đào tạo cho xã hội những nhà giáo có kiến thức Phật học, có kỹ năng hoạt động xã hội, mẫu mực về đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực.

Tiến trình mở rộng động cơ học tập của tăng ni đã khởi động cùng với tiến trình chấn hưng Phật giáo trong thập niên 1930. Đây là một sự chuyển biến toàn bộ trong hoạt động giáo dục Phật giáo, có tầm quan trọng quyết định quan hệ mới của Phật giáo với xã hội.

Đối với xã hội Việt Nam, trong chấn hưng Phật giáo, Phật giáo Việt Nam phấn đấu thoát khỏi tình trạng thụ động, bên lề, lạc điệu, vất vưởng trong ma chay, hủ tục. Muốn vậy, một trong những thay đổi là thế hệ tăng ni mới với mục tiêu, với động cơ học tập mới, đảm nhiệm những vai trò mới, và như vậy với trách nhiệm giáo dục mới.

Thực tế đã có một cuộc cải cách giáo dục Phật giáo trong những năm 1930-1940. Điều này đã dẫn tới một thế hệ các nhà lãnh đạo Phật giáo mới trong những năm 1950 trong phạm vi cả nước, và đặc biệt ở miền Nam trong thập niên 1960, 1970, đưa đến những thành tựu lớn trong hoạt động ở các lãnh vực hoằng pháp giáo dục, văn hóa, truyền thông, từ thiện xã hội.

Nửa đầu thế kỷ XX, Phật giáo Việt Nam về cơ bản đã có một vai trò mới, một thế đứng mới, với những đóng góp mới.

Sau năm 1975, do tình hình khó khăn chung, vai trò của Phật giáo trong xã hội có phần đi xuống, giáo dục Phật giáo có những giới hạn nhất định.

Nhưng ở đây, chúng ta lại thấy những tác động tích cực của việc mở rộng động cơ học tập hình thành trong tu sĩ Phật giáo Việt Nam từ nửa thế kỷ trước. Trong hoàn cảnh giáo dục Phật giáo có ít nhiều khó khăn, Phật giáo Việt Nam đã không rơi về tình trạng mê tín, cúng bái (dù là yếu tố này có gia tăng). Do vậy, giáo dục tăng ni không thụt lùi về tình trạng truyền nghề cầu cúng, nghi lễ. Trường hợp này ở Phật giáo cho thấy vai trò lớn lao của động cơ học tập và việc đẩy mạnh nghiên cứu vào lãnh vực động cơ học tập như chúng ta đang làm hôm nay là rất đúng.

Từ động cơ học tập để vẫn có thể giữ được vai trò của người thầy trong xã hội, người tu sĩ Phật giáo kiên trì với mục tiêu năng lực, trình độ, kiến thức. Về cơ bản, Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn 1975 đến thập niên 1990 đã chấp nhận giáo dục thế học với người tu sĩ. Người tu sĩ Phật giáo không quay về với giáo dục chữ Hán tự viện tách biệt đầu thế kỷ XX, mà nỗ lực học tập vừa trong hệ thống giáo dục nhà nước, vừa tự đào tạo và học tập Phật học từ thầy tổ.

Kết quả, đó là sự khôi phục nhanh chóng giáo dục Phật giáo trong thập niên 1990, và những năm sau đó khi hoàn cảnh khách quan cho phép. Tiến trình phát triển giáo dục Phật giáo đối với tăng ni về cơ bản không có đứt gãy lớn, không có sự đảo lộn, mà vẫn tiến triển đúng hướng, phù hợp với xu thế của thời đại. Việc người tu sĩ Phật giáo Việt Nam hôm nay vừa có học vị thế học trong môi trường giáo dục chung, vừa có kết quả học tập Phật học dù trong một thời gian không có học tập trường lớp chính quy là một thành tựu lớn của việc xác định đúng đắn động cơ học tập, tiếp tục mở rộng động cơ học tập đối với tăng ni. Hệ thống hai nền giáo dục mà Phật giáo Việt Nam thể nghiệm trong nửa cuối thế kỷ XX đã là một nét đặc sắc lớn của Phật giáo Việt Nam hiện đại.

  1. Tiếp tục mở rộng động cơ học tập của tăng ni là tiếp tục chấn hưng Phật giáo Việt Nam

Tiếp tục mở rộng động cơ học tập của tăng ni không phải là việc xác định lại động cơ học tập. Việc xác định lại động cơ học tập của tăng ni trong giáo dục Phật giáo Việt Nam là quá trình đã được hoàn thiện và chứng tỏ kết quả trong thế kỷ XX. Hiện nay, việc mở rộng động cơ học tập của tăng ni Phật giáo Việt Nam cần được hiểu theo nghĩa mở rộng động cơ ứng dụng, đưa kết quả học tập vào thực tế, thực tế hóa hơn nữa hoạt động học tập.

Sau khi đạt được yêu cầu trí thức hóa tu sĩ Phật giáo Việt Nam, thì người tu sĩ trí thức Phật giáo lại có xu hướng rơi về một cực đoan khác, đối lập với cực đoan giáo dục truyền nghề cúng bái đầu thế kỷ XX. Đó là cực đoan kinh viện hóa, hàn lâm hóa, là cái học cao cấp nhưng xa rời thực tế, dù có kiến thức, có học vị nhưng hiệu quả xã hội thấp.

Đóng góp của động cơ học tập để trở thành những trí thức kinh viện vẫn là đóng góp quan trọng cho giáo dục Phật giáo và cho xã hội. Tuy nhiên, cần có một tỷ lệ thích hợp. Việc có quá nhiều nhà khoa bảng Phật giáo nghiên cứu kinh viện nhưng lại thiếu những trí thức ứng dụng là điều không có lợi cho Phật giáo Việt Nam hiện đại. Sự thay đổi, nếu có, trước hết phải từ động cơ học tập của tăng ni.

Trong khi đó, thời đại luôn có những biến đổi mạnh mẽ, nhanh chóng và sâu sắc. Vì vậy, cần hiểu mở rộng động cơ học tập là sự thích nghi, là khả năng mở trong việc thích ứng của học tập đối với nhu cầu đa dạng và phát triển từ xã hội. Đó là sự cân đối của kiến thức hàn lâm và ứng dụng ở mục tiêu cuối cùng, làm cho kiến thức trở nên có ích.

Nhưng từ đầu, đó là sự định vị chủ quan từ tăng ni Phật giáo Việt Nam và những người tổ chức triển khai chương trình giáo dục Phật giáo Việt Nam. Mở rộng động cơ học tập là mở rộng sự tiếp thu những kiến thức có nhu cầu từ thực tế, hơn là chỉ lựa chọn những kiến thức theo ý muốn chủ quan của riêng người học. Mở rộng động cơ học tập là xác định lại việc học không phải chỉ là trò chơi chữ nghĩa mà học là để phục vụ đạo pháp, phục vụ xã hội, phục vụ đất nước.

Đây thực tế là bước điều chỉnh chiến lược trong giáo dục Phật giáo, điều chỉnh quan hệ Phật giáo Việt Nam với xã hội. Phật giáo Việt Nam đã giải quyết bài toán nhu cầu cần học, và đi đến bước thứ hai, học gì và học như thế nào, học sao cho hữu ích đối với người tu sĩ. Bước đi thứ hai này cũng quan trọng và khó khăn không kém bước đi thứ nhất.

Trong mối quan hệ với xã hội, bước đi thứ hai này không phải là yêu cầu tính thực dụng ở giáo dục Phật giáo, mà là yêu cầu tính hữu dụng, thiết thực, hiệu quả. Điều đó có lợi trước hết cho Phật giáo nhưng cũng là nhu cầu bức thiết của xã hội. Khi quan hệ giữa giáo dục Phật giáo và xã hội được nâng cao, hoàn thiện đó cũng là lợi ích của toàn xã hội.

  1. Những đề xuất cụ thể

Cơ sở quan điểm của những đề xuất dưới đây, trước hết cần nhấn mạnh đạo Phật là đạo thực hành, đạo Phật là đạo tích cực. Trên nền tảng thực hành và tích cực, chúng ta tiến đến những đề xuất cụ thể cho việc mở rộng động cơ học tập ở tu sĩ Phật giáo Việt Nam, thúc đẩy việc đóng góp của giáo dục Phật giáo cho xã hội.

Xét từ góc độ chấn hưng Phật giáo Việt Nam, những đề xuất hữu ích cho giáo dục Phật giáo Việt Nam hiện đại bao giờ cũng là những động lực để tiếp tục chấn hưng Phật giáo.

Từ bài học đổi mới giáo dục Phật giáo Việt Nam, chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX, thì đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển biến động cơ học tập của người tu sĩ Phật giáo trước tiên là việc tổ chức, triển khai, quản lý có hiệu quả môi trường giáo dục mới, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn tích cực từ người học. Tất nhiên, đây là trách nhiệm của phía “dạy”, phía tổ chức triển khai điều hành hệ thống giáo dục Phật giáo.

Chúng ta đã nói đến việc Phật giáo Việt Nam chấp nhận 2 hệ thống giáo dục ở người tu sĩ trong bước 1 cải cách giáo dục Phật giáo, thì ở bước 2, chúng ta cần giảm thiểu sự phân biệt giữa 2 hệ thống, đưa giáo dục Phật giáo tiến gần với giáo dục xã hội, nâng cao tính thiết thực phục vụ xã hội của hệ thống giáo dục Phật giáo. Cụ thể, cần giảm bớt những yếu tố kinh viện trong chương trình giáo dục tăng ni, gia tăng yếu tố thiết thực, hữu ích, ứng dụng. Đi vào chi tiết, chương trình giáo dục Phật giáo cần giúp cho người học có những hiểu biết mới, nhận thức mới về xã hội, theo kịp những biến chuyển của đời sống, có những kỹ năng để tham gia tích cực và hiệu quả hơn vào đời sống xã hội.

Cần có những môn học hay gia tăng thời lượng một cách thích hợp những môn học có tính cách ứng dụng như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, phương pháp giảng dạy kinh điển, thực hành tiếng Việt, truyền thông thực hành, tin học ứng dụng… hoàn thiện ở tăng ni chức năng nhà giáo, bổ sung chức năng nhà báo, giúp người học có khả năng sử dụng kỹ năng hiện đại trong lãnh vực truyền thông, văn hóa, giáo dục.

Tổ chức nhiều hơn các hoạt động kiến tập, thực tập, thực hành, các hình thức vận dụng kiến thức đã học vào thực tế trong chương trình học, giúp người học xác định rõ động cơ học tập là để ứng dụng, để phục vụ trong quá trình học.

Tăng cường giá trị của đánh giá thực hành, đánh giá hoạt động ứng dụng trong đánh giá kết quả học tập nói chung, là một phần của các biện pháp khuyến khích người học có định hướng tích cực và thiết thực trong động cơ học tập. Nghiên cứu để tìm những biện pháp khuyến khích khác đối với việc định hình động cơ học tập hiệu quả ở người học.

Tổ chức môi trường ứng dụng triển khai kiến thức đã học ngay trong trường học, như hình thành bộ phận truyền thông, bộ phận hoạt động văn hóa, bộ phận hoạt động từ thiện xã hội… thường xuyên tổ chức các hoạt động tương ứng như tổ chức biên tập ấn phẩm, tổ chức trang web, các hoạt động từ thiện kết hợp với hoằng pháp ở quy mô thực tập.

Giản lược kiến thức về nghi lễ cũng như các kiến thức mà người học có thể tiếp nhận trực tiếp từ bổn sư, trong quá trình giao tiếp, có thể tự đào tạo không cần qua trường lớp.

Quảng bá những tấm gương có động cơ học tập theo hướng hiệu quả, thiết thực, thích ứng với sự phát triển của xã hội, người tu sĩ đóng vai trò tích cực, có ảnh hưởng lớn đối với xã hội, điển hình tiếp nhận 2 hệ thống giáo dục theo hướng bổ sung, hỗ trợ cho nhau.

Hòa thượng, TS. Thích Thiện Tâm

(Bài đã được công bố trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Động cơ học tập của người học và trách nhiệm của người dạy – Thực trạng và giải pháp”,  tổ chức tại Bà Rịa-Vũng Tàu ngày 17-18/7/2015, NXB Đại học quốc gia Hà Nội ấn hành, Hà Nội 2015, tr.45-49)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *