Một số giải pháp thu hẹp khoảng cách chênh lệch chất lượng giáo dục nông thôn-thành thị ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp

Tác giả bài viết: Phạm Thị Ngọc Nga – Trường Tiểu học An Lạc 1 Thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

I. MỞ ĐẦU

Sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa giữa các vùng miền nói chung và giữa vùng nông thôn với thành thị nói riêng, đây là vấn đề luôn được các nhà giáo dục, cụ thể hơn là các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy ở các trường tiểu học luôn trăn trở. Thị xã Hồng Ngự thuộc vùng biên giới, vùng nông thôn vùng sâu vùng xa của tỉnh Đồng Tháp. Nơi đây đa số người dân sống bằng nghề nông, đời sống kinh tế rất khó khăn.  Mặc dù, trong những năm qua Thị xã Hồng Ngự đã có nhiều cố gắng trong việc tạo nhiều cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là học sinh cấp tiểu học. Vì vậy tỉ lệ biết chữ, tỉ lệ nhập học ở bậc học phổ cập ngày càng được giữ vững. Tuy nhiên, xét về chất lượng giáo dục ở các trường vùng nông thôn và thành thị có sự cách biệt đáng kể, càng về vùng sâu hơn thì chất lượng càng thấp hơn; khả năng tham gia các phong trào hội thi do Ngành tổ chức hoặc phối hợp tổ chức có tham gia nhưng chưa đạt hoặc đạt rất thấp. Đó là trăn trở lớn của giáo viên. Riêng bản thân tôi qua nhiều lần chuyển đổi công tác có nhiều kinh nghiệm trong quản lý và giảng dạy tôi xin đề xuất một số biện pháp để cải thiện vấn đề trên.

II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG VÙNG SÂU VÀ VÙNG THÀNH THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

1. Hệ thống trường, lớp; tỉ lệ huy động học sinh ra lớp

Năm học 2019-2020 thị xã Hồng Ngự có tổng số 12 trường tiểu học; Giảm 01 trường so với năm trước do sáp nhập trường TH Tân Hội và TH Tân Hội 1.

Hệ thống mạng lưới trường lớp tiểu học ở Thị xã Hồng Ngự được phát triển, phủ khắp các xã, phường (có 3 phường 4 xã, trong đó có 2 xã biên giới là Bình Thạnh và Tân Hội) các xã phường đều có trường tiểu học, có trường địa bàn rộng, dân số đông nên có từ hai đến ba điểm lẻ); các trường ở vùng sâu, có khoảng cách xa điểm trường trung tâm, hầu hết đều có điểm trường lẻ nhằm đáp ứng khoảng cách hợp lí để học sinh đến trường; ở những điểm lẻ xa điểm trường trung tâm, có ít học sinh với hai trình độ khác nhau, không thể mở lớp đơn, đã tổ chức loại hình lớp ghép (Bình Thạnh, Tân Hội, An Lạc).

Toàn thị xã tổng cộng 279 lớp, giảm 05 lớp so với năm học trước chiếm tỉ lệ 7,47% số học sinh tiểu học toàn tỉnh

Công tác duy trì sĩ số: Do sự biến đổi cơ học về dân số trên địa bàn nên tỷ lệ học sinh giảm ở vùng nông thôn, biên giới còn cao hơn mặt bằng chung của thị xã. Cụ thể là tỷ lệ học sinh giảm ở cấp tiểu học là 0.20%, Tỷ lệ bỏ học là 0.03% rơi vào các trường vùng nông thôn, vùng biên giới.

2. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và các điều kiện dạy học

Mặc dù chưa có số liệu thống kê cụ thể, nhưng nằm trong tình trạng chung các trường tiểu học trong vùng nông thôn còn nhiều thiếu thốn về trang thiết bị, phương tiện máy móc, đồ dùng dạy học. Hàng năm các nhà trường đều trích một phần kinh phí chi thường xuyên để mua sắm, bổ sung trang thiết bị, đồ dùng dạy học, nhưng chỉ mang tính “cho có”, bởi không phải trường nào cũng có đủ kinh phí. Nhiều giáo viên ở các trường vùng nông thôn, biên giới đa số phải tận dụng các trang thiết bị, đồ dùng dạy học được cấp từ rất lâu, hóa chất, dụng cụ dạy học đều không sử dụng được. Ngoài ra, còn rất nhiều trường chưa được đầu tư trang thiết bị hiện đại áp dụng CNTT trong dạy học như: máy chiếu, màn hình tivi, phòng máy tính, phòng học ngoại ngữ, phòng học bộ môn thiếu cũng là nguyên nhân khiến chất lượng dạy học không đạt hiệu quả cao trong khi các trường vùng thành thị đã có đầy đủ. Công trình vệ sinh nhiều trường còn thiếu, xuống cấp, nhất là ở các điểm trường lẻ. Điều đó khiến khoảng cách chất lượng giáo dục càng xa hơn

3. Kết quả chất lượng giáo dục

Năm học 2018-2019
 Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa

hoàn thành

SL % SL % SL %
Vùng thành thị

(An Thạnh 1, An Thạnh 2…)

3472/3790 91,6% 318/3790 8,4 0/3790 0%
Vùng nông thôn

(An Bình B, Bình Thạnh..)

548/687  79,8% 128/687 18,7% 11/687 1,5%

Với thực trạng nêu trên ta có thể thấy, các trường ở vùng thành thị tỷ lệ học sinh được đánh giá “hoàn thành tốt” đạt rất cao, tỷ lệ học sinh “chưa hoàn thành” không có. Trong khi các trường vùng nông thôn, biên giới có sự chênh lệch đáng kể. Qua báo cáo tổng kết hàng năm, những con số biết nói đã làm các nhà lãnh đạo trăn trở băn khoăn không ít.

4. Nguyên nhân

Các trường thuộc vùng nông thôn vùng biên giới: Đa số người dân nghèo sinh bằng nghề làm ruộng rẫy, điều kiện sản xuất còn rất khó khăn, thiếu thốn, lao động chủ yếu là thủ công, người dân chưa thấy rõ được lợi ích của việc đi học nên chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của con em, hầu như họ khoán trắng việc học cho nhà trường. Chi phí trực tiếp mà phụ huynh phải trả cho giáo dục vượt quá khả năng tài chính của những gia đình nghèo gây cản trở cho việc đi học. Hơn nữa, học sinh vùng nông thôn phải đi kiếm sống, giúp đỡ gia đình các em phải nghĩ học thường xuyên nên việc tiếp thu kiến thức hình thành các kỹ năng thua kém rất nhiều so với HS ở thành thị. Bên cạnh các nguyên nhân trên, điều kiện địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội là một trong những nguyên nhân chất lượng giáo dục thấp hơn vùng thành thị.

Cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhiều và đã bị xuống cấp trầm trọng. Trường có số lượng học sinh ít nhưng phải học ở nhiều điểm lẻ. Nhiều trường chưa có sân chơi bãi tập nên không đảm bảo an toàn, hợp vệ sinh cho các em vui chơi, sinh hoạt khi đến trường.

Các thiết bị đồ dùng phục vụ cho công tác dạy và học hầu như không đủ và đã bị hư hỏng do nhiều năm sử dụng.

Hiệu quả đào tạo cấp tiểu học còn thấp hơn mặt bằng chung của tỉnh. Do lượng HS biến đổi cơ học, chuyển theo gia đình đi làm ăn xa dẫn đến hiệu quả đào tạo chưa cao.

Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên còn hạn chế nhiều về nhận thức, chưa xác định rõ về vai trò trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo HS. Sự phối hợp trong sinh hoạt, công tác của đội ngũ còn rời rạc, chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ và sự thống nhất chưa cao. Dẫn dến chất lượng giáo dục không bằng các trường ở vùng thành thị có điều kiện hơn là điều tất yếu.

Vậy làm thế nào để thu hẹp khoảng cách chênh lệch chất lượng giáo dục giữa vùng nông thôn và thành thị hiệu đạt quả nhất. Phạm vi bài viết này tôi xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau.

5. Một số giải pháp thu hẹp khoảng cách chênh lệch giáo dục vùng nông thôn và thành thị ở Thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

5.1. Nâng cao nhận thức về giáo dục

Những HS thuộc các hộ gia đình nghèo thuộc vùng nông thôn, biên giới thì trình độ học vấn của cha mẹ hạn chế nên không hiểu rõ được tầm quan trọng của giáo dục. Vì vậy, vào đầu năm học, thông qua các buổi họp phụ huynh, nhà trường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các bậc cha mẹ và HS tầm quan trọng của việc học, cũng như sự quan tâm của PH đối với việc học của con em, cha mẹ cần tạo điều kiện cho các em được đến trường học đầy đủ, vì nếu các em bỏ học theo cha mẹ kiếm sống sẽ thiếu hụt kiến thức không theo kịp bạn bè đây cũng là nguyên nhân các em bỏ học.

Ngoài ra, nhà trường cần có nhiều hình thức phong phú đa dạng qua việc phối hợp chính quyền địa phương các buổi họp dân để cha mẹ HS có kiến thức về việc chăm sóc, nuôi dạy con cái, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, có khả năng giúp cho con em đến trường, tiếp cận đầy đủ giáo dục với các trường có điều kiện, có chất lượng tốt.

5.2. Ưu tiên về mặt chính sách

Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho người nghèo trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục nhưng tỉ lệ HS nghèo không đến trường và bỏ học giữa chừng còn khá phổ biến. Vì vậy, ngân sách nhà nước tập trung hơn cho các trường vùng khó khăn và ưu tiên phân bổ kinh phí để xây dựng CSVC, đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ giáo viên; đồng thời tăng cường công tác quản lý, giám sát sử dụng kinh phí một cách có hiệu quả. Cần phát triển mạng lưới các trường lớp ở vùng nông thôn tạo điều kiện để xây dựng trường tiểu học đạt Chuẩn quốc gia. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục trong nhân dân nhằm huy động nguồn nội lực và trí tuệ vào công tác giáo dục để đảm bảo chất lượng phổ cập giáo dục (PCGD). Ngoài ra, cần có các chính sách hỗ trợ về tài chính cho hộ gia đình nghèo, đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng cho học sinh nghèo.

Tăng cường việc thực hiện bồi dưỡng thuờng xuyên về chuyên môn, phương pháp dạy học cho giáo viên. Có chính sách hỗ trợ và tạo cơ hội học tập nâng cao tay nghề cho các giáo viên, góp phần tạo ra một xã hội học tập trên phạm vi xã, phường nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh vùng nông thôn thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch đó.

5.3  Nâng cao chất lượng dạy và học

Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai ”

Muốn có trò giỏi thì phải có thầy giỏi, muốn có một thế hệ ngày mai tươi sáng thì những người thầy phải có trách nhiệm dạy dỗ và chăm sóc các em ngay từ hôm nay. Để các em có điều kiện học tập rèn luyện và phát triển toàn diện, cần phải quan tâm đầu tư xây dựng một môi trường làm việc, học tập trong sáng lành mạnh. Những năm qua, theo báo cáo tổng kết ngành, tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng vẫn còn, trình trạng học sinh còn khó khăn trong môn học vẫn xảy ra làm giảm sút lòng tin của cha mẹ HS đối với công tác giáo dục tại địa phương. Có trường hợp, đầu năm cha mẹ vào xin cho con học lại lớp dưới. Đây là một vấn đề nhức nhối đối với những người làm công tác giáo dục có tâm huyết.

Xác định trẻ em là những chủ nhân tương lai của đất nước, đất nước có phồn vinh và phát triển được hay không chính là nhờ vào yếu tố con người quyết định. Với vai trò, trách nhiệm là người đứng đầu trực tiếp quản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động của trường, tôi đã tập trung đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu những căn nguyên của mọi vấn đề để đề ra những biện pháp tháo gỡ, khắc phục cho phù hợp.

Xác định rõ việc dạy thật, học thật, chất lượng thật là phương châm hàng đầu mà nhà trường cần quan tâm, tránh chạy theo thành tích, đánh giá không đúng thực chất chất lượng của học tập của HS, cho lên lớp một cách tùy tiện…Do vậy có nhiều em vì không theo kịp bạn bè nên đâm ra chán nản rồi dẫn đến tình trạng nghỉ học giữa chừng.

Xác định đội ngũ thầy cô giáo là lực lượng cơ bản tham gia xây dựng và phát triển nhà trường, là lực lượng nòng cốt quyết định đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Vì thế phải tập trung thường xuyên quan tâm, giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện cho đội ngũ thầy cô giáo nâng cao và phát triển toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp lẫn trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm…Đội ngũ giáo viên cốt cán cần quan tâm nhiều hơn để làm nòng cốt cho các trường, lựa chọn những GV tích cực, nhiệt tình có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt, để cơ cấu vào làm trưởng các ban ngành, đoàn thể. Vì đây là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động trong trường. Phân công công tác chuyên môn, công tác kiêm nhiệm hợp lý, khoa học đúng năng lực của từng thành viên phù hợp với khả năng của họ. Phải luôn quan tâm, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ như: các lớp nâng chuẩn, lý luận chính trị, bồi dưỡng công tác quản lý, tin học, ngoại ngữ … Tổ chức tập huấn đầy đủ các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ do ngành chỉ đạo.

Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn đều đặn 2 lần/tháng. Trong sinh hoạt chuyên môn phải tập trung bàn bạc thảo luận các bài học, nội dung còn khó khăn; đầu tư sâu đến việc đổi mới nội dung sinh hoạt, đi sâu thảo luận bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Ban giám hiệu cùng dự với tổ để cùng nhau tháo gỡ những vướng mắc.

Chỉ đạo giáo viên áp dụng nhiều hình thức dạy học phong phú như: Học theo nhóm, tổ chức nhiều trò chơi trong học tập. Tổ chức nhiều hình thức học tập phong phú, các em được trực tiếp tham gia cùng với các thầy cô làm các đồ dùng dạy học, các đồ dùng phải ngộ nghĩnh, dễ thương, màu sắc đẹp và gần gũi với các em. Giúp các em biết cách sử dụng các đồ dùng vào  quá trình học tập. Tổ chức các hình thức dạy học nhẹ nhàng: Học mà chơi, chơi mà học, tạo cho không khí lớp học vui nhộn, kích thích được sự ham học cho các em. Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu phải chỉ đạo giáo viên rà soát, phân loại chất lượng học sinh của lớp mình. Lập danh sách học sinh chưa hoàn thành môn nào để đề ra các biện pháp giúp đỡ kịp thời.

Đối với những giáo viên có tay nghề còn hạn chế thì phải thường xuyên quan tâm dự giờ thăm lớp, phân công cho đội ngũ cốt cán kèm cặp, giúp đỡ thêm.

5.4. Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh.

Lứa tuổi tiểu học là lứa tuổi ham chơi, các em còn quá nhỏ, ý thức tự giác chưa cao. Vì thế các em hay nghỉ học tùy tiện, bỏ học giữa chừng, số lượng học sinh chưa hoàn thành môn học hàng năm còn nhiều, thậm chí có em sau thời gian nghỉ hè quên kiến thức năm cũ. Để giúp các em ngày càng thêm yêu trường mến lớp, ham thích đi học, xem được đi học là niềm vui, là trách nhiệm của các em, có tinh thần tự giác học tập. nhà trường cần có sự phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể, nhất là tổ chức Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh thường xuyên chú ý đến việc rèn kĩ năng sống, tổ chức các hoạt động vui chơi lành mạnh thu hút được đông đảo các em học sinh tham gia như: Tổ chức trò chơi dân gian, thi đấu bóng đá, tổ chức tham quan về nguồn, múa hát tập thể, trồng rau liên Đội, phát thanh măng non, biểu diễn văn nghệ dưới cờ, thực hành đóng vai tiểu phẩm, thi nhảy bao bố, ngậm nước đổ chai, tải đạn qua sông….. Các hoạt động này sẽ giúp các em ham thích đi học, góp phần thu hẹp dần khoảng cách chất lượng vùng nông thôn – thành thị.

5.6. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường nông thôn.

Cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang, an toàn, sạch đẹp cũng là một yếu tố hết sức quan trọng, góp phần không nhỏ đến việc thu hẹp khoảng cách chất lượng vùng nông thôn – thành thị, giúp cho thầy – trò yên tâm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy và học. Nhiều năm qua, các trường vùng nông thôn chưa được đầu tư đúng mức, chỉ tập trung xây dựng trường đạt Chuẩn quốc gia ở vùng thành thị như An Thạnh 1, An Thạnh 2, An Bình A…Tất nhiên phụ huynh ai cũng thích cho con em mình học ở những trường có cơ sở khang trang hơn, đẹp đẽ hơn. Thế nhưng thực tế các trường vùng nông thôn, vùng biên giới thường số lượng HS ít nên phải học rải rác ở các điểm lẻ, các phòng học ở điểm lẻ đã cũ, bị xuống cấp trầm trọng, không đủ ánh sáng, không đảm bảo an toàn vì đã được xây dựng từ quá lâu (từ trước năm 1975), cơ sở vật chất còn thiếu thốn quá nhiều, vài trường chưa có sân chơi bãi tập, không có nhà để xe … Lãnh đạo nhà trường phải thường xuyên tham mưu đến các cấp lãnh đạo quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất, phải chọn các hạng mục cần ưu tiên, từng bước cải tạo môi trường làm việc phù hợp với khả năng thực tế của trường. Tạo khung cảnh luôn mới mẻ, tươi mát, hấp dẫn, đảm bảo an toàn, đủ điều kiện để phục vụ tốt cho thầy và trò khi thực hiện nhiệm vụ dạy và học.

5.7. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.

Quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất cho cán bộ quản lí, giáo viên được bồi dưỡng theo chuẩn và nâng chuẩn tăng cường tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thông qua các hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn; tham gia các diễn đàn, các cuộc thi, các chương trình tập huấn trên trang mạng Trường học kết nối.

Giáo viên cần được khuyến khích, hỗ trợ để tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực và đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường.

Để đảm bảo cho việc tự học nâng cao năng lực và đổi mới phương pháp dạy học của GV thật sự hiệu quả thì đòi hỏi có sự hỗ trợ, khuyến khích từ trường và phòng giáo dục thông qua việc tổ chức cho GV “Hội giảng chuyên môn” theo cách tiếp cận mới. Qua đó, họ có cơ hội được học hỏi bằng quá trình tự trải nghiệm, học hỏi từ đồng nghiệp nhờ thiết kế giáo án, tiến hành, dự giờ nhiều bài học ở các trường các lớp học ở vùng thành thị. Ngoài ra, các trường thành thị còn tạo cơ hội tự học cho GV qua việc chia sẻ chuyên môn giữa các trường điểm ở Thị xã mà giáo viên là người trực tiếp đứng lớp. Các hình thức bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục đã góp phần tích cực nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lí; nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên các trường vùng nông thôn, biên giới. Đó là con đường học tập thiết thực, hiệu quả và phù hợp nhất hiện nay đối với tất cả các GV.

III. KẾT LUẬN

Chất lượng giáo dục mà đặc biệt là giáo dục tiểu học có vai trò quan trọng trong việc đào tạo ra những công dân giúp ích cho đất nước, góp phần phát triển kinh tế nước nhà. Trong đó, vai trò của các bậc cha mẹ góp phần quan trọng trong việc học tập của HS, cha mẹ luôn đồng hành với các em tạo mọi điều kiện để các em được đến trường lĩnh hội kiến thức. Nhà trường tạo điều kiện về mặt CSVC, trang thiết bị phục vụ việc học của các em một cách thuận lợi nhất. Bên cạnh đó thầy cô giáo là người luôn tâm huyết với nghề, luôn sáng tạo không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn và luôn sâu sát với các em để kịp thời giúp đỡ tạo điều kiện cho các em yên tâm học tập.

Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục vùng nông thôn theo kịp các trường vùng thành thị của thị xã. Đây là việc làm vô cùng thiết thực để giảm thiểu khoảng cách chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng nông thôn và thành thị trên địa bàn Thị xã Hồng Ngự nói riêng và giữa các vùng nói chung trên cả nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGDĐT ngày 28 tháng 9 năm 2016 của Bộ Giáo dục đào tạo ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học.
  2. Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ Giáo dục đào tạo về việc phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
  3. Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4/11/2013 “Về đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Hội nghị TW 8 khóa X1.
  4. Báo cáo tổng kết năm học 2018-2019 của Phòng Giáo dục đào tạo Thị xã Hồng Ngự.

————-

(Bài viết đã được công bố trong Tuyển tập công trình khoa học Hội thảo quốc gia mang tên “ Giáo dục phát triển toàn diện – Thực trạng và giải pháp xét từ bình diện Tâm lý học và Giáo dục học” do Hội Khoa học Tâm Lý-Giáo dục Việt Nam tổ chức ngày 30 – 31 tháng 10 năm 2020 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020, tr. 400-407).