A- NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ GIÁO DỤC MIỀN NÚI NGHỆ AN
Nghệ An có 11 huyện, thị xã miền núi, diện tích miền núi là 13.742,9 km 2 (Toàn tỉnh là 16.464,3 km2), dân số các huyện miền núi có 1.148,276 người (Trong đó có 423.636 người dân tộc thiểu số). Ngành Giáo dục và Đào tạo Nghệ An có hệ thống các trường lớp phổ thông thuộc vùng dân tộc, miền núi chiếm tỷ lệ khá cao 45,1% so với cả tỉnh. Nghệ An có 17 xã của 6 huyện giáp biên giới nước bạn Lào với đường biên giới dài 419 km, Đi qua các huyện miền núi Nghệ An có 2 quốc lộ: Quốc lộ 48 và quốc lộ 7. Quốc lộ số 7 nối từ biên giới Việt Lào thuộc huyện Kỳ Sơn về Vinh có độ dài 300 km, quốc lộ 48 bắt đầu từ biên giới Việt – Lào từ huyện Quế Phong nối về Vinh cũng có độ dài gần 300 km. Nghệ An có 2 Trường THPT DTNT (đặt tại thành phố Vinh), 6 trường THCS DTNT, 7 trường THPT đặt tại 6 huyện miền núi cao dọc 2 quốc lộ nói trên. Có 2 quốc lộ đi từ Lào về Vinh dọc qua tất cả các huyện miền núi Nghệ An là một lợi thế cho giao thông và phát triển kinh tế nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ của các tệ nạn xã hội như tàng trữ, vận chuyển, tiêu thụ ma túy, bạo lực học đường. Số học sinh của mỗi trường THPT của các huyện vùng cao Nghệ An có quy mô từ 1200 đến 1400 học sinh. Việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc miền núi ở Nghệ An có ý nghĩa vô cùng quan trong trong chiến lược phát triển Kinh tế -Xã hội, An ninh quốc phòng của tỉnh. Thời gian qua công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục miền núi của ngành GD&ĐT đã đạt được nhiều thành tựu và đã làm cho giáo dục miền núi có bước phát triển một bước khá dài. Tuy nhiên cho đến nay giáo dục dân tộc miền núi Nghệ An vẩn còn nhiều khó khăn, hạn chế. Việc nhìn nhận đúng thực trạng khó khăn để tìm những giải pháp đột phá cho sự phát triển giáo dục miền núi đang đặt ra một cách cấp bách. Nâng chất lượng giáo dục miền núi cũng chính là nâng chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Nâng chất lượng nguồn đào tạo nhân lực có chất lượng và chất lượng cao cho các huyện miền núi ở Nghệ An. Góp phần cho việc phát triển bền vững về mọi mặt cho miền núi .
B- ĐÁNH GIÁ MỘT CÁCH TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH DÀNH RIÊNG CHO MIỀN NÚI CỦA TRUNG ƯƠNG, CỦA TỈNH NGHỆ AN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG ĐÃ BAN HÀNH CHO GIÁO DỤC MIỀN NÚI NGHỆ AN NÓI RIÊNG VÀ GIÁO DỤC MIỀN NÚI CẢ NƯỚC NÓI CHUNG ĐẾN NĂM 2020.
1 – Trong thời gian qua Đảng, Nhà nước và chính quyền tỉnh Nghệ An đã ban hành nhiều chủ trương chính sách đặc thù cho cho đồng bào miền núi và giáo dục miền núi . Những chính sách đó đã có nhiều tác động tích cực tới việc nâng đời sống của người dân và tạo bước phát triển về mọi mặt trong đó có giáo dục miền núi:
+ Các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước mà học sinh 2 trường THPT DTNT, các trường Tiểu học THCS bán trú miền núi Nghệ An thụ hưởng đã tạo điều kiện cho học sinh đi học không phải ở trọ, có thời gian để dành cho việc học (Trừ học sinh các trường THPT còn lại của 6 huyện miền núi- Không tính tới các trường THPT của 2 huyện Thanh Chương và Tân Kỳ).
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà trường phổ thông bán trú, nội trú trong việc quản lý dạy học và giáo dục học sinh nên chất lượng dạy học và giáo dục toàn diện được nâng lên và được bảo đảm an ninh, trật tự, phòng tránh được những hiểm họa có thể đến với học sinh dân tộc, học sinh học xa nhà, ngăn chặn có hiệu quả bạo lực học đường.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp lại hệ thống mạng lưới trường lớp ở bậc tiểu học và trung học cơ sở,
+ Có điều kiện để các nhà trường tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
+ Đời sống của giáo viên và học sinh đã được nâng lên rất nhiều.
2 – Những khó khăn của giáo dục miền núi cần có thêm những chủ trương chính sách để tháo gỡ:
– Đối với các trường THPT miền núi chưa được hưởng chế độ chính sách nội trú, bán trú cho học sinh:
+ Công tác quản lý đối với học sinh ngoại trú của các trường THPT đang gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vậy cần phải có chính sách mới bổ sung thêm thì mới khắc phục được những khó khăn trong việc quản lý học sinh dân tộc ở các trường THPT miền núi.
+ Chất lượng dạy học và giáo dục đã nâng lên nhưng chưa được như mong muốn.
Do chất lượng học tập cuối bậc tiểu học, THCS chưa được như mong muốn của ngành GD&ĐT nên số học sinh tuyển vào đầu cấp (nếu dự thi tuyển sinh) của các trường THPT vùng cao đều có điểm thi thuộc bậc thấp nhất toàn tỉnh.
+ Chất lượng các môn Ngoại ngữ, Tin học là những môn học đang gặp nhiều khó khăn nhất.
– Do tác động của những chính sách ưu đãi của Nhà nước với học sinh dân tộc, miền núi nên phụ huynh các dân tộc miền núi đã cho con cái đi học nhưng sự quan tâm chăm sóc, phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh thì đang nhiều bất cập.
– Những quy định về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý và giáo viên không có tiêu chuẩn nào mang tính chất đặc thù để phục vụ giáo dục miền núi Tiêu chuẩn giống hoàn toàn tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên miền xuôi. Trong lúc đó học sinh miền núi có những đặc điểm về sinh tâm lý khác rất nhiều so với học sinh miền xuôi.
– Học sinh các trường THPT của các huyện miền núi có tới 80% học sinh dân tộc thiểu số. Gần 100% học sinh dân tộc thiểu số cách xa trường hàng chục km. Có nhiều em cách xa trường trên 30 km.
– Không có khu nội trú nên tất cả học sinh ở xa trong đó là học sinh dân tộc phải ở trọ trong dân. Các khu dân cư đều nằm trong địa bàn thị trấn nên cuộc sống nơi các em ở trọ có sự ảnh hưởng lớn trước sự sôi động của cơ chế thị trường. Có nhiều sự tiềm ẩn của cuộc sống sôi động của thị trấn các huyện vùng cao đang rình rập các em.
– Công tác quản lý và sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ngoại trú gặp nhiều khó khăn.
+ Giáo viên và cán bộ quản lý có bộ phận lớn chưa hiểu kỹ và nắm chắc tâm lý của phụ huynh và học sinh, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An trước khi tham gia các hoạt động dạy học và giáo dục.
+ Hội đồng nhân dân các huyện miền núi trong nhiều năm qua hầu như chưa có phiên họp riêng nào dành để bàn về những giải pháp để phát triển giáo dục miền núi trong đó có cả việc bàn về các giải pháp xã hội hóa giáo dục.
+ Các khó khăn trên sẽ dẫn tới chất lượng giáo dục toàn diện và chất lượng nguồn nhân lực, nhân lực có trình độ cao bổ sung cho miền núi khó đạt yêu cầu. Trong lúc đó các huyện miền núi trước kỳ Đại hội Đảng nhiệm kỳ 2020-2025 đều đã đề cập tới nhu cầu của các huyện miền núi về đội ngũ lao động có trình độ cao.
– Đòi hỏi cấp thiết hiện nay và cho thời gian tới là phải có những giải pháp mới, những đề xuất mới để trung ương và tỉnh ban hành bổ sung chủ trương, chính sách mới cho giáo dục miền núi để nâng chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục và chất lượng quản lý trường học ở các trường phổ thông đặc biệt là ở các trường THPT các huyện miền núi thực sự có chuyển biến.
C – KIẾN NGHỊ ĐỂ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP MANG TÍNH ĐỘT PHÁ ĐỐI VỚI NGÀNH GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO,VỚI CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP ĐỂ NÂNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TOÀN DIỆN CHO CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI NGHỆ AN NÓI RIÊNG VÀ TRÊN CẢ NƯỚC NÓI CHUNG
I – Các căn cứ để đưa ra giải pháp và đề xuất kiến nghị
1 – Căn cứ thực tiễn
– Muốn phát triển kinh tế xã hội của Nghệ An thì không thể không chăm lo đến phát triển kinh tế xã hộị, văn hóa giáo dục và chăm lo tới việc nâng chất lượng dạy học, giáo dục của tất cả các trường học đặc biệt là các trường THPT ở huyện miền núi ở Nghệ An.
– Miền núi Nghệ An diện tích rộng, dân số đông, có nhiều dân tộc thiểu số, định cư dọc biên giới, ngôn ngữ giao tiếp của người dân miền núi là tiếng các dân tộc thiểu số.Vì vậy:
Người làm giáo dục ở miền núi phải nắm vững các đặc điểm về tâm sinh lý, phong tục tập quán của người dân, đặc điểm cư trú của phụ huynh, của học sinh các dân tộc thiểu số thì mới có cách làm giáo dục phù hợp với thực tiễn miền núi.
– Các chủ trương chính sách của Đảng Nhà nước của Ngành Giáo dục và Đào tạo trong hàng chục năm qua đã căn cứ vào thực tiễn đó nhưng phải nói là quan tâm chưa đầy đủ. Do đó phải bổ sung thêm các chính sách mới. Tham luận khoa học này sẽ góp phần kiến nghị lên các cấp chính quyền và các cấp quản lý giáo dục bổ sung thêm một số chính sách mới. Những chính sách, giải pháp mới được đề xuất của tham luận cũng căn cứ vào thực tiễn đó nhưng đầy đủ hơn phù hợp với yêu cầu của tất cả các trường học ở miền núi
2 – Căn cứ lý luận khoa học
– Khi Giáo dục chưa có những giải pháp phù hợp với tâm sinh lý học sinh và phụ huynh, phù hợp với đặc điểm miền núi thì các giải pháp và các chính sách đã có sẽ không đủ động lực để tạo bước bứt phá cho sự phát triển của giáo dục miền núi.
– Để phát triển giáo dục miền núi (Giáo dục toàn diện) một cách bền vững ngay từ giờ các cơ quan quản lý giáo dục và các cấp chính quyền phải có thêm những giải pháp và chủ trương chính sách mới mang tính chất đột phá thì mới nâng chất lượng dạy học ở miền núi. Hiện giáo dục miền núi vẩn đang còn thiếu sự tác động của một số chính sách, chủ trương của Trung ương, của tỉnh và của ngành Giáo dục và Đào tạo cho việc tăng cường cơ sở vật chất, cho việc xây dựng đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý để nâng chất lượng công tác quản lý, xây dựng đội ngũ nhà giáo ở miền núi tăng cường cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện và tạo bước phát triển mới vững chắc cho các trường phổ thông ở miền núi.
– Nghiên cứu và đưa ra những nhận định khái quát về đặc điểm tâm sinh lý, phong tục tập quán của từng dân tộc thiểu số ở Nghệ An nhằm giúp cho cán bộ quản lý và giáo viên hiểu đúng con người miền núi trước khi tiến hành dạy học và giáo dục con em đồng bào các dân tộc thiểu số là việc làm cấp thiết. Bởi vì:
+ Nếu biết căn cứ vào sinh tâm lý, phong tục tập quán, đặc điểm cư trú của học sinh để giáo dục toàn diện cho học sinh thì Giáo viên mới có được những phương pháp dạy học thích hợp cho các em học sinh các bậc học ở phổ thông.
+ Hiểu được phụ huynh vùng dân tộc nhà trường mới có được những cách thức để đạt được hiệu quả cao trong việc thực hiện nguyên lý nhà trường phối hợp với gia đình xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh cũng như mới thực hiện được xã hội hóa giáo dục đạt hiệu quả, mới tạo được sự đồng bộ trong giáo dục toàn diện.
+ Những người viết bản tham luận này, trên cơ sở hiểu biết và năm chắc thực tiễn của giáo dục phổ thông của các huyện miền núi một cách chắc chắn và tiếp nhận thực tiễn đó bằng nhãn quan khoa học để đề xuất với các cấp chính quyền các cấp quản lý giáo dục những mặt đang cần có tác động của các chính sách, chủ trương của Trung ương, của tỉnh và của ngành Giáo dục và Đào tạo cho việc tăng cường cơ sở vật chất, nâng chất lượng công tác quản lý và xây dựng đội ngũ nhà giáo ở miền núi.
– Làm rõ tính cấp thiết là phải chăm lo thật chu đáo đối với giáo dục miền núi: Muốn phát triển kinh tế xã hội của Nghệ An thì không thể không chăm lo đến phát triển kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục của tất cả các huyện miền núi ở Nghệ An .
– Ngành giáo dục và Đào tạo các cấp phải có những giải pháp mới mẻ hơn, mang tính đặc thù hơn thì mới có thể nâng chất lượng giáo viên trong đó có giải pháp giúp cán bộ quản lý giáo viên năm chắc những đặc điểm về tâm lý, về nếp sống, sinh hoạt, văn hóa, phong tục tập quản của nhân dân phụ huynh, học sinh và những đặc điểm về tình hình phát triển kinh tế của đia phương trước khi tham gia giảng dạy và quản lý các trường phổ thông ở miền núi.

II – Các nhóm giải pháp để nâng chất lượng giáo dục miền núi
1 – Nhóm giải pháp về nâng nhận thức cho giáo viên và cán bộ quản lý
Nhận thức về:
– Ngành Giáo dục và Đào tạo các cấp cần có những giải pháp để nâng chất lượng giáo viên trong đó có giải pháp giúp cán bộ quản lý giáo viên thực sự có ý thức trách nhiệm trong việc học tập, bồi dưỡng để nắm chắc những đặc điểm về tâm lý, về nếp sống, sinh hoạt, phong tục tập quản của nhân dân phụ huynh, học sinh và nnhững đặc điểm về tình hình phát triển kinh tế của đia phương trước khi tham gia giảng dạy và quản lý các trường phổ thông ở miền núi
– Cán bộ quản lý các trường học miền núi; trên cơ sở hiểu biết và nắm chắc thực tiễn của các huyện miền núi và tiếp nhận thực tiễn đó bằng nhãn quan khoa học để đề xuất với các cấp chính quyền các cấp quản lý giáo dục những mặt đang cần có tác động của các chính sách, chủ trương của Trung ương, của tỉnh và của ngành Giáo dục và Đào tạo cho việc tăng cường cơ sở vật chất, nâng chất lượng công tác quản lý và xây dựng đội ngũ nhà giáo ở miền núi.
– Làm rõ tính cấp thiết là phải chăm lo thật chu đáo đối với giáo dục miền núi: Muốn phát triển kinh tế xã hội của Nghệ An thì không thể không chăm lo đến phát triển kinh tế xã hội văn hóa giáo dục của tất cả các huyện miền núi ở Nghệ An.
2 – Nhóm giải pháp về nâng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên:
2.1. Sớm tổ chức nghiên cứu và biên soạn tài liệu đưa ra những nhận định khái quát về đặc điểm sinh tâm lý, phong tục tập quán của từng dân tộc thiểu số ở Nghệ Am làm tài liệu bồi dưỡng thường xuyên thuộc diện bắt buộc cho cán bộ quản lý và giáo viên công tác tại các huyện miền núi Nghệ An nhằm giúp cho cán bộ quản lý và giáo viên hiểu đúng con người miền núi trước khi tiến hành dạy học và giáo dục con em đồng bào các dân tộc thiểu số và quản lý các nhà trường đóng ở địa bàn miền núi ..
2.2. Cần thực hiện chủ trương thi tuyển đầu vào cho các lớp đào tạo bồi dưỡng năng lực cho giáo viên được tuyển lên làm cán bộ quản lý để tạo động cơ và ý thức trách nhiệm cho người làm công tác quản lý. Nội dung thi đầu vào cho các khóa đào tạo cán bộ quản lý cần có thêm phần thi hiểu biết và khả năng sử dụng tiếng dân tộc để hộ trợ cho công tác quản lý và dạy học.
2.3. Giáo viên dạy các trường miền núi cần được tăng cường thêm tiếng dân tộc và năng lực vận dụng tiếng Dân tộc hỗ trỡ cho hoạt động dạy học và giáo dục trong trường phổ thông (hỗ trợ chứ không dùng ngôn ngữ dân tộc thay thế tiếng Việt bằng tiếng dân tộc trong dạy học- tức không lạm dụng tiếng dân tộc vào dạy học và quản lý.).
– Sở Giáo dục và Đào tạo cần đưa nội dung nghe, đọc, nói viết và vận dụng tiếng dân tộc vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên hàng năm cho giáo viên và cán bộ quản lý.
– Các trường phổ thông miền núi cần đưa nội dung học tiếng dân tộc của giáo viên cán bộ quản lý vào chương trình nhà trường .
– Các Phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các nhà trường tổ chức các lớp bồi ddưỡng tiếng dân tộc cho giáo viên (có thể cử các giáo viên người dân tộc hoặc cán bộ quản lý là người dân tộc làm công tác bồi dưỡng tăng cường tiếng Dân tộc cho giáo viên trong từng nhà trường).
2.4. Các trường đào tạo giáo viên cần đưa vào chương trình đào tạo nội dung học tiếng dân tộc vào chương trình đào tạo cho sinh viên.
2.5. Việc tăng cường tiếng dân tộc cho giáo viên trong các trường học cần phải được Sở và các Phòng giáo dục đưa vào thành một tiêu chí quan trong trong thanh, kiểm tra chuyên môn và xếp loại thi đua của các trường phổ thông.
2.6. Sở Giáo dục và các phòng giáo dục phải bố trí đủ và cần tăng thêm biên chế giáo viên dạy Ngoại ngữ và tin học cho các trường phổ thông ở các huyện miền núi với định mức giáo viên có biên chế cao hơn các trường miền xuôi.
2.7. Các trường phổ thông ở miền núi phải có những nội dung bồi dưỡng kỹ năng sống có tính đặc thù riêng cho học sinh miền núi. Dành thời gian để rèn luyện kỹ năng sống cho những bài học đặc thù riêng cho học sinh miền núi.
3 – Nhóm giải pháp 3: Đổi mới công tác quản lý:
Tăng cường quyền tự chủ trong dạy học cho giáo viên::
+ Cho phép giáo viên linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp thích hợp cho từng bài dạy để nâng chất lượng dạy học.Với mục tiêu là giáo viên giúp học sinh hiểu được kiến thức bài học. Vận dụng kiến thức để giải và làm được các bà tập và thực hành trong sách giáo khoa. Tránh cách sử dụng phương pháp dạy học một cách máy móc theo sách giáo viên.
+ Phát động phong trào sử dụng cách diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng mạch lạc giúp học sinh hiểu được các bài học để cuối năm học học sinh đạt chuẩn kiến thức quy định, và có phẩm chất năng lực cần đạt cuối năm cho từng lớp học, cấp học.
+ Khắc phục tình trạng cán bộ quản lý để giáo viên dùng tiếng dân tộc quá liều lượng trong dạy học mà chỉ dùng tiếng dân tộc để hỗ trợ học sinh hiểu bài lúc cần thiết. Hiện bậc THCS và Tiểu học ở các trường miền núi có gần 70% giáo viên là người địa phương nên dễ có tình trạng giáo viên dùng nhiều thời lượng sử dụng tiếng dân tộc để giảng dạy học sinh, làm ảnh hưởng tới chất lượng học tiếng Việt của học sinh.
+ Đổi mới công tác thanh, kiểm tra theo hướng đánh giá kết quả dạy học của giáo viên trên cơ sở kết quả học tập của học sinh sau từng bài học, sau học kỳ, sau năm học.
4 – Nhóm giải pháp 4: Bổ sung thêm chế độ chính sách cho các trường THPT miền núi:
+ Các huyện miền núi và Sở Giáo dục và Đào tạo kiến nghị với Tỉnh và Trung ương bổ sung thêm chế độ chính sách để các trường THPT ở các huyện miền núi trở thành trường THPT Dân tộc nội trú để các nhà trường có điều kiện:
-Xây thêm nhà nội trú cho học sinh. Tạo điều kiện cho học sinh được nội trí trong trường tiện lợi và an toàn cho học sinh khi các em từ những xã vùng sâu vùng xa được vào học trình độ THPT.
– Có các nhà nội trú các trường sẽ làm tốt hơn công tác quản lý hỗ trợ học sinh. Giúp các em có nhiều thời gian dành cho học tập và bớt đi nhiều vất vả lo toan trong việc tự lực về ăn, ở của học sinh.
– Góp phần phòng tránh bạo lực học đường. Tạo điều kiện để xây dựng trường học thân thiện, lành mạnh..
– Nội trú 100% học sinh sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn và nâng chất lượng cho nhiều hoạt động của trường tức là thực hiện tốt và có chất lượng các hoạt động để giáo dục toàn diện cho học sinh:
-Tổ chức tốt công tác Tư vấn tâm lý học đường và các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
-Chất lượng học tập và giáo dục sẽ được nâng lên và bảo đảm tính bền vững..
-Được chấp nhận là trường THPT DTNT nhà trường có chế độ chính sách để giáo viên làm công tác quản lý sinh hoạt và học tập cho học sinh nội trú. Từ trước tới nay do không có chế độ của trường THPT DTNT cho nên các trường gặp nhiều khó khăn trong việc này, thời gian tự học của học sinh được bố trí rất ít vì các em ngoại trú phải dành nhiều thời gian cho hoạt động tự phục vụ bản thân, chợ búa, tự nấu ăn, chơi điện tử, sống tự do dễ lười biếng trong tự học ở nhà và dễ bị các phần tử xấu và các tệ nạn xã hội lôi kéo.
Nếu nhà nước không ban hành chế độ trường nội trú thì đề nghị UBND tỉnh Nghệ An cho phép các trường THPT được hưởng chế độ trường bán trú như các trường TH, THCS bán trú khác trên địa bàn đã được thụ hưởng .
5 – Nhóm giải pháp thứ 5: Làm tốt công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội:
5.1. Tổ chức thật khoa học và giải quyết những vấn đề quan trọng trong việc tổ chức các cuộc họp phụ huynh của các trường THPT miền núi trong năm học.Trong các nội dung họp phụ huynh có 3 nội dung họp phụ huynh không nên bỏ qua:
+ Tăng thêm ý thức trách nhiệm của phụ huynh đối với sự học của con em.
+ Tạo sự đồng lòng để phụ huynh hỗ trợ việc xây khu nội trú của nhà trường.
+ Phối hợp giữ nhà trường với phụ huynh để giáo dục đạo đức cho học sinh, để thúc đẩy học sinh học tập và ây dựng cơ sở vật chất:
5.2. Biên soạn nội dung hướng dẫn để các trường miền núi tổ chức tốt và bài bản các kỳ họp phụ huynh trong năm.
5.3. Tham mưu cho Hội đồng nhân dân các cấp có phiên họp riêng bàn về phát triển giáo dục miền núi.
5.4. Tham mưu với Huyện ủy, Hội đồng nhân dân,UBND huyện, MTTQ huyện kêu gọi sự đầu tư đóng góp hỗ trợ của các nhà đầu tư và của phụ huynh để xây dựng nhà nội trú cho các trường THPT đóng trên địa bàn huyện.
5.5. Mở rộng chủ trương “Trường giúp trường” mà Sở và Công đoàn GD Nghệ An đã phát động thành phong trào “ Nhiều trường giúp 1 trường”, “ Nhiều huyện giúp 1 huyện” và “giúp nhiều năm”. Giá trị hộ trợ của phong trào này là hộ trợ để xây dựng nhà nội trú cho học sinh và mua sắm trang thiết bị phục vụ nội trú cho học sinh.
* * *
Mặc dù trong hàng chục năm qua Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách đặc thù để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số và giáo dục miền núi. Đã tạo được bước phát triển mới cho giáo dục miền núi. Tuy nhiên để tạo bước phát triển bền vững về mọi mặt cho miền núi và cho giáo dục dân tộc, miền núi cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng Đảng, Nhà nước và Ngành Giáo dục và Đào tạo cần tiếp tục bổ sung thêm những chủ trương mới, ngành giáo dục và đào tạo cần có thêm những giải pháp mới mang tính đột phá thì chất lượng giáo dục phổ thông (chất lượng giáo dục toàn diện) mới được thực sự nâng lên.
Hy vọng những giải pháp mà chúng tôi đã đề cập trong bài viết này (Được đề xuất dưới góc nhìn của Tâm lý học – Giáo dục học và Dân tộc học) sẽ được các cấp Đảng, Chính quyền và Ngành GD&ĐT tiếp thu để những ý kiến của chúng tôi thực sự có ích đặng góp phần cho sự thành công của sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo mà đất nước ta đang thực hiện.
Nguyễn Văn Khoa
Thạc sĩ, Phó Giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo Nghệ An, Chủ tịch Hội KHTL-GD tỉnh Nghệ An
Nguyễn Đình Anh
Thạc sĩ, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội KHTL-GD tỉnh Nghệ An
(Bài đã được đăng trong Tuyển tập công trình khoa học Hội thảo quốc gia do Hội Khoa học Tâm lý- Giáo dục Việt Nam tổ chức mang tên “Giáo dục phát triển toàn diện -Thực trạng và giải pháp xét từ bình diện Tâm lý học và Giáo dục học » ngày 30 ÷ 31 tháng 10 năm 2020 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020, tr.135-143.

